HỒI KÝ: THẰNG “NÁI NỢN”

BBT xin giới thiệu với quý độc giả một bài viết rất đáng yêu của một văn hữu hiện cư ngụ tại Úc châu. Một thời đã qua, bất công kham khó phủ lên mỗi phận đời, nhưng tình người và khát vọng sống vươn lên chưa bao giờ mai một. Kẻ ác có thể dùng súng đạn để tước đoạt tự do thể xác, nhưng tự do tư tưởng, tự do yêu thương, tự do sống trọn vẹn từng giây phút công chính và nghĩa tình thì chẳng ai có thể tước đoạt được. Anh “nái nợn” năm xưa, bây giờ đã hai màu tóc, đã lên chức ông và có cháu để ẵm bồng. Dòng đời vẫn cứ thế trôi, nhưng nghĩa tình thì vẫn còn đọng lại.

—-

Một chiếc xe lửa trong ga Nha Trang

THẰNG NÁI NỢN

Thằng nái nợn (lái lợn) là tên mà ông trưởng tàu (tài xế xe lửa) đã đặt cho tôi, trong một dịp tình cờ hết sức hi hữu, có nằm mơ tôi cũng không tin được đó là sự thật. Mãi cho đến về sau này, khi tôi hỏi ông thì ông chỉ cười và trả lời tôi rằng “thấy cậu tội“. Và cũng từ đó, tình cảm giữa tôi và ông ngày thêm khắn khít, cùng với những chuyến tàu dưới quyền điều khiển của ông, tôi gọi ông là Bố và xưng con.
Tên ông là Phương, Võ Hữu Phương, người Bắc, năm 1977 được thuyên chuyển vào ga Nha Trang làm tài xế xe lửa cho tuyến đường sắt Nha Trang – Sài Gòn. Các chuyến tàu do ông điều khiển là ”tàu chợ” nghĩa là ga nào cũng phải ngừng lại để thả khách xuống, và bốc khách mới lên tàu.

Hai năm sau ngày cộng sản chiếm miền Nam, sau các đợt đánh tư sản và đổi tiền, mọi thứ đều phải được quốc hữu hoá, các hợp tác xã dưới hình thức kinh tế tập trung đã được triển khai rộng rãi, chính sách hộ khẩu được áp dụng cho từng gia đình, người dân bị buộc ép mình vào khuôn khổ, nằm dưới sự chỉ đạo của đảng. Miền Nam hoàn toàn sụp đổ, mọi giá trị đều bị đảo lộn, một nền kinh tế khác được ra đời, không bị đảng kềm tỏa, nhưng bị kiểm soát vô cùng gắt gao. Buôn lậu!

Sau khi đã tạm ổn định được tình hình an ninh chính trị, cộng sản đã cho quốc hữu hoá tất cả mọi phương tiện, cơ sở vật chất, nhu yếu phẩm phục vụ đời sống con người đều lọt vào tay nhà nước, do nhà nước quản lý và phân phối. Buôn lậu là hoạt động duy nhất không nằm trong vòng kềm tỏa của cộng sản. Buôn lậu là con đường duy nhất để sống còn dưới chế độ cộng sản. Những người không có gan để buôn lậu thì tuôn đồ nhà ra bán, để duy trì kiếp sống vật vờ, không thấy tương lai.

Tôi cũng như muôn ngàn người dân miền Nam khác, cũng phải nhào ra đường giành giật, bương chải kiếm miếng ăn, từ buôn chợ trời, buôn xăng lậu, buôn sách báo (đồi trụy) trên mặt của cái Poncho là quần áo cũ, dưới lớp quần áo cũ là những Vòng Tay Học Trò, Về Miền Đất Hứa, nhật báo Trắng Đen, Đại Dân Tộc, Sóng Thần (báo cũ trước 1975, nhưng không có đủ để bán) tấm Poncho được Trải ra giữa chợ, trên đó là những thứ tôi bán để mưu sinh hàng ngày, thấy bóng dáng công an là túm gọn lại vác lên vai chạy biến vào chợ đông đảo. Đời sống vất vưởng, suốt ngày rong ruổi ngoài đường, chờ đến tối mới dám về nhà, tránh những cặp mắt cú vọ của công an, và đám phường đội rình mò để bắt đi nghĩa vụ quân sự. Cuộc sống đầy bất an, mình không làm chủ được cuộc đời mình.

Sau này nhờ quen biết qua đời sống chợ trời, có người rủ tôi đi buôn heo, một vốn bốn lời, một con heo sống nếu lọt được từ Nha Trang vô đến Sài Gòn là coi như ngon cơm, nhưng để có được một con heo sống từ Nha Trang vào đến Sài Gòn là cả một vấn đề không ngon cơm chút nào, đôi khi mất cả chì lẫn chài, cười ra máu mắt. Nhưng đối với tôi, việc buôn heo lại là một thử thách, hơn nữa là dịp để tránh xa địa phương, không bị đám phường đội để ý đến.

Công việc đầu tiên của người buôn heo trước hết là phải bắt cặp với một anh chạy xe ba gác, để dùng làm phương tiện chuyên chở heo, coi như kẻ kiếm cơm, người kiếm cháo, lâu ngày thành quen thân luôn, nương nhau mà sống.

Ban ngày tôi đạp xe đạp rong ruổi trong các làng quê để tìm mua heo, heo được mua phải lựa giống heo tốt, ít mỡ, nặng trên dưới 60 kg, nếu nặng hơn nữa thì heo khó cơ hội sống sót trên tuyến đường dài 450km, trên một chuyến xe lửa chật chội, đông đúc, từ Nha Trang vào Sài Gòn (nghề dạy nghề, kinh nghiệm dạy cho tôi biết heo tốt heo xấu). Heo được ngả giá xong xuôi, trao tiền cọc, tôi trở về thành phố, cùng anh ba gác trở lại để bắt heo, heo được bắt bỏ vào trong cái rọ, đem lên xe ba gác trở về thành phố để gửi vào khu xóm nhà cạnh đường rầy ga Nha Trang, chờ đêm sau chở vào Sài Gòn bán. Trên đường đi phải luồn lách để tránh gặp các hung thần (quản lý thị trường) của chế độ, nếu bị bắt gặp, coi như mất trắng con heo.

3 giờ sáng, ga Nha Trang đã nhộn nhịp trở mình sau một đêm tạm yên ắng, tiếng nói của những người buôn bán (lậu) dọc tuyến đường Nha Trang – Sài Gòn gọi nhau, hối thúc , các quán cà phê trước ga cũng bắt đầu mở cửa để bán cho dân buôn, từng món hàng lậu được chuyển lên xe lửa, giấu kín dưới hàng ghế ngồi, phải làm ngay, làm gấp, trước 5 giờ sáng, giờ xe lửa khởi hành để tránh quản lý thị trường theo xe lửa để kiểm soát bắt hàng lậu. Khách đi chuyển bằng phương tiện xe lửa cũng đã leo lên để tìm cho mình chỗ ngồi thoải mái hơn, chẳng mấy chốc các toa xe lửa đã đầy nghẹt người, ai chậm chân thì phải ngồi ngay dưới sàn xe lửa, các món hàng lậu xách tay, vài ký thuốc lá Lạng Sơn, một ít nước mắm, năm bảy ký cá khô , đều đã được đậy kín, ngụy trang cẩn thận, nhét khắp nơi. Những tiếng động đặc trưng của con tàu chợ cộng thêm tiếng chửi rủa giành nhau chỗ ngồi, tạo thành một thứ âm thanh hỗn độn của một buổi chợ ồn ào.

Vị trí con heo của tôi đã được tôi tính toán cẩn thận, heo đã được tôi và anh bạn ba gác cho nằm ngay dưới hàng ghế ngồi của xe lửa, sát cạnh cửa lên xuống của toa tàu, mõm heo được đặt quay ra ngoài hướng ra cửa để tiếp xúc không khí, trong ba lô tôi là vài ký sắn nước (củ sắn) được đặt dưới chân để cho heo ăn dọc theo đường, nếu không heo sẽ chết vì thiếu nước và ngộp. Khi tàu về tới Sài Gòn là heo đã được sẵn sàng phóng xuống khi tàu rề rề chạy vào ga. Nhà ga cuối cùng để dân buôn heo như tôi, tuôn heo xuống là ga Hoà Hưng, vì nếu tuôn heo không kịp, thì tàu qua ga Hoà Hưng để vào Ngã Sáu Sài Gòn là coi như thua, vì không còn chỗ để tuôn heo xuống nữa, coi như mất trắng công trình vất vả một ngày, một đêm, đem con heo từ Nha Trang vào Sài Gòn. Vì lý do này, dân buôn lậu đã nghĩ ra được một phương pháp làm trì hoãn chuyến tàu, bằng cách tháo ống dẫn hơi được nối từng toa tàu một với nhau ở giữa mỗi toa tàu, khi ống dẫn hơi được tháo gỡ thì chỉ có những toa tàu nào còn gắn với nhau cùng đầu tàu mới chạy được, những toa sau trở thành bất khiển dụng, phải chờ ráp lại thì mới chạy tiếp được, dân buôn lậu có thời giờ để tuôn hàng xuống.

Nỗi kinh hoàng của dân buôn heo tụi tôi là đám quản lý thị trường, chúng là hung thần của dân buôn lậu, chúng lên xuống bất chợt, kiểm soát bất cứ nơi nào chúng sinh nghi, chúng đi thành từng cặp, một nam, một nữ, tay quấn băng đỏ với bốn chữ “quản lý thị trường” chúng xuất hiện ở cuối tàu là giữa tàu và đầu tàu nhốn nháo, bàn tán phương thức tẩu tán hoặc giấu kín làm sao trước khi chúng đến.

Nỗi kinh hoàng thứ hai là dân đốt than, lấy củi từ rừng chở về Sài Gòn tiêu thụ, đoạn đường từ Nha Trang vào Sài Gòn có hai nhà ga mà dân làm củi hoạt động mạnh nhất là ga Bình Tuy và ga Long Khánh. Khi tàu dừng ở hai ga này thì không biết từ đâu, dọc hai bên tàu, từng bó củi đã được cột chặt chẽ, từng thân cây củi với đường kính khoảng 20 Centimeter, đã được cưa ngắn phóng vun vút lên tàu, bất chấp tiếng người la hét phản đối, bất kể đến sự an toàn của người khác, lâu ngày thành thói quen, cứ tàu đến ga Bình Tuy và Long Khánh thì tự động hành khách trên các toa tàu đều phải dồn về hai bên cuối toa chừa chỗ trống hai bên cửa cho dân buôn củi tuôn củi lên. Vì việc đó xảy ra hàng ngày , nên tai nạn hoặc thương vong do củi mang tới là không thể tránh khỏi. Nếu có tai nạn xảy ra, xây sát chút đỉnh thì không sao, nếu như bị nặng quá thì không ai biết thủ phạm là ai, vì lúc đó không ai dại gì đứng ra nhận mình là chủ của số củi vừa mới được tuôn lên, người bị nạn thì phải gánh chịu thương tật , hoặc tử vong mà không truy cứu được ai.

Thỉnh thoảng có những con heo vì bị khát , hoặc do bị ngộp vì không gian quá chật chội, nóng bức trên tàu nên đã chết dọc đường khi chưa vào đến Sài Gòn. Khi trường hợp này xảy ra, người chủ phải nhanh chóng quyết định làm thịt con heo liền, bằng cách liên lạc với những tay (đồ tể) là những người di chuyển từ toa này đến toa khác để bán hàng vặt, trả cho họ một số tiền, họ sẽ lôi xác con heo ra ngoài chỗ giữa hai toa tàu để thọc huyết cho máu ra hết để giữ heo lâu hơn về đến Sài Gòn, dĩ nhiên chuyến buôn đó coi như bị lỗ, vì heo chết sẽ được bán bằng mọi giá để lấy lại chút vốn.

Hôm ấy! Khi tôi và anh bạn xe ba gác, vừa khiêng con heo trong cái rọ, từ trong xóm nhà nằm sát đường xe lửa, phóng ra để băng ngang đường rây hướng về con tàu đang nằm cách chúng tôi khoảng 30 mét, bỗng một tiếng la to “quản lý thị trường“ tiếng hô làm hai thằng tôi chới với, vì đang ở giữa khoảng cách giữa xóm nhà và con tàu. Chới với vì không ngờ chúng lại xuất hiện ngay lúc này. Làm sao đây? Quay về lại xóm nhà thì chúng sẽ thấy, tiếp tục đi tới thì không biết sẽ giấu con heo ở đâu? Thật là tiến thối lưỡng nan, vừa khiêng con heo, vừa suy nghĩ, khiến tôi vấp phải một đường rây té sấp xuống mặt đất, anh bạn xe ba gác phía sau tôi cũng loạng choạng té ngã theo tôi, con heo bị rớt xuống đất kêu la inh ỏi, tôi cố gắng quay qua anh bạn bảo: anh hãy chạy đi đừng để chúng bắt được sẽ biết mặt khó làm ăn sau này. Anh bạn nghe lời tôi, vùng lên bỏ chạy về hướng xóm nhà. Riêng tôi vì đau quá, đầu bị đập xuống đất bị toét chảy máu, chân thì bị trật đau thấu trời xanh, bỏ con heo đó , tôi vùng lên chạy khập khiễng vượt qua đầu tàu hướng về một con tàu khác đậu gần đó. Đang khập khiễng chạy, bỗng nghe một tiếng gọi “thằng nái nợn“ tôi làm như không nghe thấy vẫn tiếp tục chạy, tiếng kêu to hơn “thằng nái nợn, nên đây mà trốn nhá“ Tôi quay đầu lại, nhìn về phía đầu con tàu, một thân hình chồm hẳn ra ngoài phía cửa đưa tay vẫy vẫy tôi, tôi chạy ngược về phía đầu tàu, đứng dưới chân cầu thang mà không sao đặt chân bước lên được vì đầu tàu quá cao. Ông tài xế xe lửa phải bước hẳn xuống nắm tay tôi kéo lên vào bên trong phòng lái, ông lấy khăn lau máu cho tôi , rồi bảo tôi “cứ ngồi đó cho đỡ đau, không việc gì phải hãi cả, tao chịu trách nhiệm con tàu này”.

Sau khi đỡ đau và lấy lại bình tĩnh, tôi cám ơn ông giúp tôi trốn trên tàu để không bị đám quản lý thị trường phát giác, tôi hỏi tên ông và được ông cho biết tên ông là Võ Hữu Phương, mới vào Nam công tác được vài tháng với công việc lái tàu, hiện đang ở chung với cán bộ của ngành đường sắt. Ông có ý định đưa vợ và hai cô con gái vào Nha Trang sinh sống luôn, nhân tiện ông cũng đã bộc lộ về tình cảm của ông dành cho miền Nam từ những ngày đầu tiên bước vào Nam, đặc biệt là thành phố Nha Trang mà ông nói là rất yêu mến thành phố biển này. Tôi hỏi ông là tại sao phải có mặt trên tàu sớm vậy, ông nói, tánh ông vẫn vậy xưa nay, đến ngày ông làm việc là ông đến con tàu rất sớm để xem xét cũng như chuẩn bị mọi việc cẩn thận, trước khi con tàu lăn bánh, đó cũng là dịp may hi hữu cho tôi gặp được ông, để được ông giúp đỡ.Trò chuyện khá lâu, trời cũng dần sáng, ông dìu tôi bước xuống thang để cho tôi đi về lại xóm nhà nằm bên kia đường rầy, ông và tôi chúc lành nhau, cũng như trao đổi địa chỉ để sau này thăm viếng. Tôi bước về hướng xóm nhà, lòng dậy lên một niềm vui vì đã gặp được một người tử tế giữa một xã hội nhiễu nhương, con người đạp lên nhau chỉ vì miếng ăn.

Tôi cũng quên bén luôn số phận của con heo, không biết sống chết thế nào, hay là người dân trong xóm đã khiêng vào xẻ thịt mất rồi cũng nên.
Tôi quen Bố Phương từ đó, sau chuyện đó, mỗi khi có được ngày nghỉ ông thường hay ghé nhà thăm tôi, hoặc hẹn tôi ở một quán nào đó, hai bố con nói chuyện suốt buổi. Đến giữa năm 1978 thì tôi bộc lộ ý định ra đi của tôi. Tôi rủ ông cùng đi, rủ ông đi, nhưng tôi biết ông sẽ không ra đi, bởi lẽ vợ và hai cô con gái vẫn còn ở ngoài Bắc. Ông sẽ không ra đi khi vợ con không có bên cạnh, và tôi cũng biết rằng, con người ông với cá tính không ưa bất công, sớm muộn gì ông cũng sẽ ra đi, và tôi đã đoán đúng. Cuối năm 1979, khi tôi còn đang ở trong trại tị nạn Nhật Bản, thì tôi nhận được điện tín từ người em gái của ông cho biết , gia đình của ông đã ra đi……..ra đi vĩnh viễn. Con tàu vượt biên tìm tự do trên đó có gia đình ông, ra đi từ Hải Phòng đã không thể nào đến được Hong Kong……… vì hôm đó trời bão rất mạnh.
Ở trên cao ấy , ông có thấy thằng nái nợn đang hồi tưởng về ông ….. Bố Phương.

Tri Le

%d bloggers like this: