MỘT VÒNG TRUYỀN THÔNG BÁO CHÍ CỦA NGƯỜI VIỆT TẠI NHẬT

Một vài ấn phẩm

Lấy cái mốc từ sau ngày 30/4/75, ngày mà người Việt bị bứng khỏi rễ từ đất nước, số người Việt có mặt trên khắp thế giới khoảng hơn 4 triệu người. Họ có mặt dưới nhiều hình thức: thuyền nhân, đoàn tụ gia đình, du học, tu nghiệp sinh, di dân, lao động v.v… Nhật Bản cũng thế, từ khoảng hơn 700 sinh viên du học và kiều bào trước 1975, sau gần 50 năm, con số đã tăng gấp mấy chục lần (291.414 người) và sẽ tiếp tục tăng sau chính sách tiếp nhận của chính phủ Abe kể từ tháng 4/2019. Cùng lúc với cuộc sống ngày càng ổn định thì đời sống tinh thần cũng dần dần phong phú, trong đó văn học là một khía cạnh tiêu biểu. Xin mời quí độc giả theo dõi những ghi nhận dưới đây về sự tiến triển của mặt tạm gọi là văn học qua những trang sách giấy trong quá trình 50 năm tại Nhật, khởi đầu chỉ là bản tin vài trang dần dần trở thành đặc san, nguyệt san, tác phẩm… Những ghi nhận này sẽ không theo thứ tự thời gian nên xin xem đây là tài liệu tham khảo… rất bình dân vì nhớ gì ghi đó.


Ấn phẩm:

  1. Bản tin của Ủy Ban Tranh Đấu cho Người Việt tại Nhật
  2. Nguyệt san Người Việt Tự Do
  3. Đặc tập Boat People (Nhật-Anh-Pháp-Việt)
  4. Refugees (The Cry Of The Indochinese)
  5. Phụ Trang Kháng Chiến Á Châu (Báo Kháng Chiến trụ sở Hoa Kỳ)
  6. Phụ Trang Á Châu Nguyệt san, Bán Nguyệt san Canh Tân
  7. Hiệp Hội (Hiệp Hội Người Việt Tại Nhật)
  8. Chúng tôi muốn sống (Vietnamese people’s fight Fpr Survival Anh-Việt)
  9. Việt Điểu Sào Nam Chi (越鳥巣南枝)
  10. Khuôn mặt Việt Nam (ベトナムの顔)
  11. Bản tin của Phân Hội Chuyên Gia tại Nhật
  12. Đặc San Đẳng Hướng (Phân Hội Chuyên Gia Việt Nam Tại Nhật)
  13. Sen Trắng (Cộng đồng Phật Tử Việt Nam tại Nhật)
  14. Bản tin Thân Hữu (Hội Thân Hữu Tương Trợ)
  15. Bản Tin Phù Sa
  16. Bản tin NGO VIETNAM in Kobe
  17. Bản Tin Viễn Thông (Hội Phật Giáo Việt Nam tại Nhật Bản)
  18. Nguyệt san Việt Nam Thời Báo (ký giả Anh Thuần)
  19. Nguyệt San Mekong (ông Đỗ Thông Minh)
  20. Phụng Vụ Lời Chúa (Giáo Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Nhật)
  21. Đặc san Song Nguyền (Song Nguyền Nhật Bản)
  22. Ký Ức Vụn Vặt & Chuyện Xứ Phù Tang (Huy Nguyễn-Vũ Đăng Khuê chỉ phổ biến trong vòng bạn bè, thân hữu)
  23. Cô Hai Phi Tuyết (Hải Lê)

Nhà xuất bản

  • “Nam Nghệ Xã” của Hiệp Hội Người Việt Tại Nhật phát hành những ấn phẩm như Việt Sử Toàn Thư, Tù binh và Hòa Bình, Từ Thực Dân đến Cộng Sản… và cũng là cơ sở ấn loát đầu tiên của người Việt Tại Nhật. Ngoài ra, dưới sự bảo trợ của Hội Liên Đới Người Tị Nạn Đông Dương (CSIR), Hội Cứu Giúp Người Tị Nạn (AAS), Bản Bộ Người Việt tại Nhật, Hiệp Hội Cố Vấn Luật Pháp, Hội Chi Viện Quốc Tế Á Châu, Caritas Japan v.v… Nam Nghệ Xã đã dịch thuật và phát hành cả ngàn quyển sách thuộc nhiều loại phát không cho người Việt tại Nhật như: Nhật Việt Dụng Ngữ, Danh Từ Y Tế, Ngữ Vựng Thường Dụng (Nhật-Việt), Ngữ Dụng Thường Nhật (Việt-Nhật), Chữ Hán, Đời sống và luật pháp tại Nhật, Tập Hướng Dẫn Cuộc sống tại Nhật, Vần Xuân Thu, Quốc Văn, Truyện Thần Thoại v.v… Biên soạn, phát hành các video “Tiếng Việt – bộ Sơ Cấp, Trung Cấp…
  • “Nhà xuất bản Tân Văn” của ông Đỗ Thông Minh phát hành những ấn phẩm của ông viết về nhiều mặt chính trị, khoa học, tự điển v.v… phổ biến rộng rãi khắp nơi trong đó có Bản Thường Dụng Hán Tự được rất nhiều người sử dụng.

Ngoài ra còn rất nhiều ấn phẩm khác của tác giả người Việt khác với đối tượng là người trong nước cũng như ngoài nước, nên xin được “tĩnh lược” vì chủ đề muốn nhấn mạnh là các ấn phẩm phát hành ngay tại Nhật dành cho người Việt tại Nhật.

Bước sang thời đại truyền thông mới, các ấn phẩm in ấn đã lần lượt đình bản để chuyển sang hình thức website, Facebook vừa nhanh lại vừa không tốn kém. Trong thời điểm hiện tại chỉ còn Nguyệt San Phụng Vụ Lời Chúa thì còn phát hành đều đặn. Ngoài ra còn có các bản tin tiếng Việt hướng dẫn đời sống, y tế… từ các tòa hành chánh quận, tỉnh hay các đoàn thể thiện nguyên giúp đỡ người ngoại quốc sống tại Nhật như Bản Tin Yêu Mến (Nhóm Việt Nam Yêu mến Kobe), Bản tin Kobe (Bản bộ tị nạn), Xin chào Kanagawa (Tỉnh Kanagawa), Bản tin của Hội Giúp Đỡ Người Tị Nạn Đông Dương, Danh sách Cơ Quan Y Tế cho người ngoại quốc (tỉnh Kanagawa) v.v…

Chắc chắn là sẽ còn rất nhiều thiếu sót. chúng tôi rất mong sự bổ túc từ quí vị để được đầy đủ hơn trong các lần tái bản sắp tới.

Truyền thanh

Khác với các quốc gia phương Tây về luật lệ và nhất là vấn đề tài chánh, cộng đồng người Việt tại Nhật đã không có điều kiện thực hiện nhiều chương trình truyền thanh, truyền hình. Chỉ có vài chương trình được ghi nhận như sau:

•           “Tiếng nói quê hương” của ban Việt ngữ đài FMcocolo ở Osaka, được phát lúc 5 giờ sáng đến 6 giờ sáng thứ sáu mỗi tuần. Nội dung: tin Việt Nam, Thể thao, Văn Hóa, Du Lịch.  (https://cocolo.jp/service/dj/dj_list)

•           “Hãy an nhiên mà sống” của Đài Radio FMYY phát thanh từ Kobe. Chương trình được thực hiện sau ngày Kobe bị động đất (17/1/1995). (https://tcc117.jp/fmyy/history/1999-2/)

•           Chương trình Việt Ngữ của đài NHK (đài của chính phủ) phát thanh mỗi ngày từ 8 giờ tối đến 9 giờ tối. (https://www3.nhk.or.jp/nhkworld/vi/news/)

Văn Nghệ

Tôi xin lấy cái mốc thời gian kể từ năm 1972, lúc tôi sang Nhật cho dễ nhớ và dễ tính để nói về sự phát triển của mảng văn nghệ người Việt tại đây.

Sau một năm chuẩn bị học tiếng Nhật và đậu vào một đại học, bước gian nan đầu tiên coi như đã vượt qua, tôi đã an tâm để tham gia các sinh hoạt văn nghệ thời đó qua một vài nhóm nhạc của nhóm sinh viên đàn anh lúc đó như “Hoài Hương”, “Medai-Mae” “Thăng Long”, “nhóm chuyên nhạc ngoại” và còn rất nhiều tiếng hát sinh viên tài tử, nếu còn tại thế trẻ nhất cũng đã thập thò ngưỡng cửa 70.

Đến năm 1973, thì không hẹn, không muốn tôi lại trở thành trưởng ban văn nghệ của Hội Sinh Viên Việt Nam tại Nhật. Sau tháng 4/75, với những cố gắng còn rơi rớt lại, tôi và một số bạn đã cố duy trì tình thần văn nghệ, tụi tôi chơi lại những bản nhạc cũ thời “quần loa ống dài”. Được vài năm thì mỗi người một ngả, nếu có những buổi tổ chức đều là dưới hình thức dã chiến, một cây đàn, một giọng ca hay hai, ba cây đàn với nhiều giọng ca, mang tính cách thính phòng. Năm 1981, nhóm rơi rớt của anh em chúng tôi cũng cố góp mặt để đời tác phẩm casset đầu tay “Đông Tiến”, một kỷ niệm đáng quí và không bao giờ quên được.

Đến năm 1982 thì tôi gặp được Huy Nguyễn và nhờ Huy Nguyễn ghi lại những tiến triển thêm về nền âm nhạc thời đó, vì lúc đó là người có thể chia sẻ niềm vui văn nghệ với tôi bất cứ lúc nào. Mời quí vị theo dõi:

Ghi lại không khí văn nghệ thủa ban đầu của người Việt đến Nhật, vào cuối thập niên 70- đầu 80

Tôi có hứa với ông anh trưởng ban văn nghệ, người đã tạo cho tôi điều kiện để sinh hoạt văn nghệ văn gừng ở cái thủa người tị nạn VN mới chân ướt chân ráo đến Nhật, tôi sẽ cố gắng ngồi viết lại những kỷ niệm, cơ duyên gặp gỡ với các đàn anh nghệ sĩ đầu tiên tại Nhật cũng như hải ngoại và hôm nay tôi bắt đầu óc của mình trở lại một thời rất đẹp theo kiểu nói ngày xưa là hoa mộng… mà chắc trong cuộc đời không có lần 2.

Năm 81 tôi đến Nhật, hành trang là cái quần rách và bộ đồ vượt biển đem từ Hương Cảng sang. Tâm trạng còn bàng hoàng sau một chuyến đi định mệnh khiến mình không còn biết phải chuẩn bị những gì khi đến vùng đất mới.

Định cư được một năm, tôi bắt đầu làm quen với những niềm vui nho nhỏ trên xứ người. Nhật Bản lúc đó đang trong giai đoạn phát triển cực thịch nên những dàn máy nghe nhạc Stereo và những cây đàn Keyboard quyến rũ đã hớp hồn chàng trai mê nhạc như tôi. Mua một cây keyboard (mà sau này gởi về VN, nghe bố tôi nói đã được Đức cha Hòa –Nha Trang tới ngắm nghía, thích vô cùng nên đã nhượng lại để Ngài sử dụng) sau những giờ cày mệt nhọc, tôi tập tành lại những nốt đàn mà ngày xưa đã lõm bõm học trong TCV Sao Biển và từ Frere Trọng Nha Trang. Học không qua trường lớp và chẳng có bài vở nên chỉ chơi theo ngẫu hứng. Tuy vậy, người Việt lúc đó ở Nhật quá ít nên một mình một cõi. 

Trong một Đại hội của người Việt tị nạn vùng Kansai, cậu bạn thân tên Khôi chơi Guitar cùng với tôi cây Keyboard, đệm cho tất cả các tiếng hát. Đầu thập niên 80, Keyboard là nhạc cụ mới, thu nhỏ từ cây đàn Electone có dàn trống đệm điện tử nghe rất lạ và đầy nên ai cũng thích. Lúc đó, có một phái đoàn từ Tokyo ghé xuống tham dự với phần đông anh em là sinh viên sang Nhật trước 75, thành viên lãnh đạo trong hội Người Việt Tự Do. Được gặp các “Dai-sempai” tiếng Nhật như gió và đặc biệt có trưởng ban văn nghệ Hội cựu sinh viên lúc bấy giờ, người đã từng chơi đàn cho ca sĩ Thanh Lan lúc “nàng” cùng nhạc sĩ Phạm Duy sang Nhật tham dự đại hội nhạc trẻ 74, nên các thằng em vô cùng ngưỡng mộ. Ngoài anh ra, còn có anh Minh Phương là thành viên đoàn ca nhạc Hoàng Thi Thơ đi cùng người đẹp phu nhân Kim Thư cũng là diễn viên múa của đoàn mà mình chỉ từng gặp trên tivi nên không khí thật tưng bừng. 

Anh chị Minh Phương theo đoàn ca nhạc Hoàng thi Thơ sang Nhật trình diễn đầu năm 75, gặp biến cố không về VN được nên đành ở Nhật giúp cho phong trào văn nghệ của người Việt đình đám một thời ở đây.

Tuy nhiên, lúc đó cũng có một chàng nghệ sĩ tị nạn rất đặc biệt… Lê Trung Kiên đến từ Wakayama, chàng ôm cây kèn Saxophone lên chơi bài Hạ Trắng sau khi nhờ ban nhạc 2 đứa đệm theo… Dù hoàn toàn không tập dợt, nhưng chơi kiểu chộp giựt ngay tại chỗ là nghề của các chàng nên tới lượt các đàn anh trố mắt kinh ngạc, khán giả thì rất là “rạo rực” chỉ vì lâu lắm rồi mới thưởng thức đúng nghĩa một tiếng kèn chuyên chở được hết mùa hạ của Sài Gòn năm xưa đến cho người nghe.


Thế là anh trưởng ban văn nghệ Nhật Bản mời ba đứa lên Tokyo chơi cho một chương trình đặc biệt: Ca sĩ Nguyệt Ánh từ Hoa Kỳ sang hát trong dịp Tết 83 phục vụ đồng bào trong trại tị nạn Fujisawa. 

Ở đây, đám đàn em gặp thêm được đàn anh đánh bass Trần Ngọc Giác, chơi trống Hồ trần Hiệp. Anh Hiệp là một cựu sinh viên khá nổi tiếng vì đã sáng chế ra cái ống mút nước ngọt cho công ty mà anh đang làm với vai trò như là một giám đốc xưởng. Nước hoa quả được cho vào ống nhựa rồi để đông thành kem, người ăn sẽ cắn một đầu và mút… Ý tưởng này theo anh nói, được hình thành từ bịch nước mía rất quen thuộc với thời ấu thơ của chúng tôi ngày xưa và sản phẩm anh vẫn bán rất chạy cho tới bây giờ, chỉ tiếc một điều anh đã qua đời vì ung thư ở lứa tuổi còn tràn đầy năng lượng. Trước đó, anh giao lại dàn trống ban nhạc cho một người bạn chúng tôi vượt biên qua sau là
Nguyễn tất Khoa (Kobe).

Ở VN, Khoa từng đánh trống cho các ca sĩ như Nhật Trường, Thanh Lan… đi hát chui ở các tỉnh nên nhanh chóng lắp ráp rất dễ dàng với anh em Nguyệt Ánh là ca sĩ đầu tiên chúng tôi trình diễn cùng nhau tại Nhật (1983), lúc đó những bài hát Vĩnh biệt Sài Gòn, Mưa Sài Gòn còn buồn không em, Em vẫn mơ một ngày về v.v… ai cũng thuộc nằm lòng trong những tháng ngày ở trại tị nạn nên rất hào hứng. Ngoài chương trình chính, anh trưởng ban văn nghệ và anh Minh Phương còn có sáng kiến tổ chức một đêm phòng trà đặc biệt trong hội trường trại tị nạn khiến mọi người thổn thức với những bản tình ca bất hủ một thời mà lâu lắm mới được nghe lại bằng “live show”. 

Mạnh mẽ và cứng rắn khi hát nhạc đấu tranh, nhưng cũng rất lãng mạn và tình tứ khi trình bày những bản nhạc vàng một thủa với vẻ đẹp mặn mà… Nguyệt Ánh đã hớp hết hồn khán giả. Cũng trong đêm phòng trà có một không hai đó, anh bạn kèn Saxo gặp lại người bạn gái thân thời trung học, mừng mừng tủi tủi. Chắc chẳng bao giờ gặp lại xúc cảm này phải không Kiên? 
Lúc đó mình cũng thèm có một bóng hồng ngày xưa nào đó hiện ra, mà chỉ có ma!

Từ dịp chơi nhạc này, các đàn anh và Hiệp Hội Người Việt tị nạn tổ chức môt đại hội âm nhạc hàng năm một hoặc hai lần, dịp Tết hoặc Giỗ tổ Hùng Vương, giúp cho chúng tôi có cơ hội gặp gỡ với những ca nhạc sĩ hàng đầu hải ngoại bấy giờ như:

  • Phạm Duy, Thái Hiền (1991)
  • Diễm Chi (1987)
  • Sơn Ca, (1989)
  • Họa Mi, (1990)
  • Don Hồ, (2000)
  • Elvis Phương, (1995)
  • Hương Lan, (1996)
  • Linda Trang Đài, Tomy Ngô (1995, 1999)
  • Công Thành- Lyn (2000)
  • Ngọc Phu (1996)
  • Phi Phi (2000)
  • Kenny Thái – Ý Nhi (1997) (Xuất thân từ chương trình tuyển chọn ca sĩ Nhật với tên thật là Lưu huỳnh Châu, con của vũ sư Lưu Hồng hướng dẫn cho vũ đoàn Hoàng thi Thơ) v.v…

Trong thời gian đó, ban nhạc chúng tôi đã được thành lập gồm 5 cái tên K-H, với ý nghỉa là nơi tập hợp những người thích câu ca lời hát. Sau đó để hợp tình, hợp cảnh ban nhạc đã đổi tên một lần nữa là Sống Giang (nói ngược của từ Sáng Giông, vì chỉ gặp nhau ban sáng, xong chuyện thì ai về đường đó, với một đoạn đường di chuyển khá xa 600km). Thời đó ban nhạc được tăng cường thêm những giọng ca ngọt ngào của phòng trà chui Sài Gòn xuống tàu sang Nhật như Tuyết Hương, người sau này trở thành phu nhân của anh trưởng ban văn nghệ; hoặc giọng ca thánh thót của một ca đoàn nổi tiếng Sài Gòn là cô Anh Đào, Nguyễn Thủy, Xuân Hoàng, Hoàng Oanh, Thu Trang, Tuyết Phụng…


Tuy nhiên năm 2000 ban nhạc “Sống Giang” đã thay đổi nhiều, khi 2 thành viên của ban nhạc thì lưu lạc sang xứ sở Kangaroo, và ban nhạc tạm rã đám, Tưởng đã giã từ sân khấu thì may quá, cách đây 4 năm, nhân dịp kỷ niệm 35 năm thuyền nhân VN đến Nhật, Cha C.S.Thân đã đứng ra tổ chức mời Lâm Thúy Vân, Thanh Lan… để anh em có dịp ôm lại cây đàn, lúc đó trưởng ban văn nghệ đã giải nghệ với bản Nắng Chiều đệm lần cuối cho ca sĩ Thanh Lan (2012) và lần đầu vào năm 1974), nhưng ban nhạc được tăng cường thêm tại chỗ với Diệm (Kobe) chơi bass, A.Tài (Kobe), A. Khánh (Osaka) guitar và vẫn tiếp tục rày đây mai đó dưới cái tên “Sống Giang” nhưng chỉ trong khu vực Kansai vì thành viên ban nhạc đều cùng ở một vùng.

Trên Tokyo thì cũng có nhiều nhóm trẻ được thành lập để hát chung với nhau, vì chắc ai cũng biết, người Việt Nam ta ai cũng thích vui, thích hát nhất là trên cái xứ sở buồn tênh này lúc nào cũng chỉ nghĩ đến công việc.

Ngoài ra, dưới sự hướng dẫn của vũ sư Lưu Hồng, anh Minh Phương, cộng đồng chúng ta có một ban vũ rất hùng hậu: trên dưới 20 người gồm cả nam lẫn nữ. Ban vũ này đã góp mặt hầu hết trong các chương trình Giỗ Tổ, giao lưu quốc tế như Bản Bộ Người Tị Nạn, Hội Sinh Viên Quốc Tế, các trường Trung Học, Đại Học Nhật Bản, các nhóm vũ Hàn quốc, Trung Quốc, Ba Tây… hoạt động suốt từ năm 1978 cho đến 2005. Càng ngày số tuổi của các “vũ viên” càng lớn, có người nay đã trở thành ông bà nội ngoại và được thay thế bằng các “vũ viên” trẻ hơn nhất định không thua các đàn anh đàn chị và đang tiếp nối truyền thống làm vẻ vang dân Việt nơi xứ người.

Ngoài ra, các đoàn thể tôn giáo như Công giáo hay Phật giáo ở Kanto, Kansai đều có những ca đoàn hay nhóm và hợp xướng trong các ngày lễ lớn của hai tôn giáo. Ở Kan sai thì có ca đoàn Himeji, Osaka, Kobe… Kanto thì có Tokyo, Kawaguchi v.v…

Vì khả năng giới hạn, nên chúng tôi không rõ, không nắm vững để không có thể tường trình chi tiết được. Xin xem đây là vài nét chính trong lãnh vực trong văn nghệ.

Vũ Khuê – Huy Nguyễn

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: