THƠ BẮC PHONG QUA “CHÍNH CA”

NGÔ THỊ HÀ

Phụ Trang Á Châu, số 59 tháng 1/1987

THƠ BẮC PHONG QUA “CHÍNH CA”

Bìa tập thơ Chính Ca của tác giả Bắc Phong

Rừng thâm Chí Linh về tụ nghĩa
Lê Lợi mười năm vẫn bền gan
Áo nâu lẫn với màu nâu đất
Kháng Chiến vì dân chống bạo tàn

Bắc Phong, nhà thơ kháng chiến nhận định có vẻ mới lạ này đã được Chính Ca chứng minh hùng hồn. Mặc dù từ gần mười năm nay, đều đặn trên khắp các diễn đàn báo chí hải ngoại, thơ Bắc Phong luôn luôn là một tiết mục văn nghệ nóng hổi, nuôi dưỡng tinh thần đấu tranh của đồng bào. Thế nhưng, phải đợi đến khi Mặt Trận ra đời cùng với từng thành quả lịch sử của Kháng Chiến Việt Nam, thơ Bắc Phong mói có được những ý cảm toàn bích để nâng cao phẩm cách của tác giả lên một giá trị mới theo 1 tinh thần mới: tinh thân của một Kháng Chiến Quân.

Bên cạnh mục đích giới thiệu Chính Ca đến bạn đọc, bài viết hôm nay trong tình chiến hữu ruột thịt còn là sự chia sẻ với Bắc Phong tấm lòng cao quý của người nghệ sĩ yêu nước, thương dân trước một quê hương đang “trăn trở hồi sinh”.

Trước tiên Bắc Phong tình nguyện là một nhân chứng. Anh đã sống và viết những tác phẩm đầu tay bằng một ký ức cháy bỏng về địa ngục trần gian mà chính anh và những người thân yêu đã bị đọa đày. Thơ anh không phải là những hoài niệm của xúc cảm mông mênh hay xỏ xiên châm biếm, nó là lời khai đanh thép bằng những mắt đỏ trưng, bằng giác quan tinh tế:

Ôi trang giấy bao giờ chảy máu
Lời khai tôi tận khổ Việt Nam

Trang giấy của Bắc Phong bật lên hình ảnh quê hương đang tan nát điêu linh dưới nền đô hộ độc ác của quyền đã cam tâm bán đứng đất nước cho đế-quốc Nga xô:

Việt Nam một mảnh cơ đồ
Biến thành châu huyện bọn Xô Viết rồi

Tại nơi mà “nhà tù khắp nẻo giang sơn” con người phải làm thân trâu ngựa, bón xương tưới máu dưới vũng lầy vô sản để xây đắp thiên đường không tưởng, thơ Bắc Phong đã được viết ra từ những mánh đời gầy hao, đớn đau, quằn quại nhưng không hề rên la hèn yếu. Nước mắt dù rơi mà:

là thương nhớ đọng thành
làm thăng hoa lòng chung thủy

của những người vợ, người tình khóc trước chồng anh tàn tạ ở chốn lao tù, của những mẹ già cắn răng rấm rứt khi nhận tin con đã chết từ lâu:

Ôi những giọt lệ già nua
lăn trên má da mồi
có thể làm chảy thép
nơi gông cùm chủ nghĩa tanh hôi

Giữa “cơn đau dân tộc còn đang hoại hành” đó, người chứng đầu tiên Bắc Phong đã chọn sự ở lại để san sẻ vui buồn cùng tha nhân, ghi chép tất cả thảm trạng xã hội khốn cùng và gói ghém hòai bão củ mình vào thi ca, như là sự cứu rỗi sau cùng cho lương tâm bị câm nín vì khủng bố đàn áp của bạo quyền.

Ta khai em nức nở nghe
Dù sao cũng vẫn chọn quê hương này.

Hơn ai hết, chúng ta hiểu rõ thân phận của những kẻ sĩ ở lại, bị đe dọa rình rập đêm ngày với đủ thứ hành hạ nhất là về mặt tinh thần. Nhà thơ đã nhìn nhận sự bất lực của mình:

Anh đã không đủ can đảm tự tử
Nên phải sống như một trí thức côn trùng
Đã không biết xưng danh cho sự nghiệp chung
Đưa dân tộc mình đi về hố thẳm

Lúc đó những nỗ lực tuyên vận của ta hãy còn non yếu, tiếng nói chính nghĩa của Mặt Trận đã bị bạo quyền ra sức bưng bít, lung lạc. Trong tình thế tưởng chừng tuyệt vọng và cô lập đó, để tìm lấy một môi trường tranh đấu thích hợp và hữu hiệu hơn, Bắc Phong đã quyết định ra đi. Thân xác anh phải lưu vong nhưng tâm hồn nhà thơ thì “mưa nguồn gió biển” vẫn trở về từng phút từng giây:

Thơ tôi hẹn với non sông
Ngày tình thương lấp hố hận thù sâu
Bình minh ngước mắt lên cao
Tôi mơ thấy cánh bồ câu ngợp trời

Thơ hẹn với non sông ngày trở lại, thơ vì 60 triệu đồng bào ruột thịt đang tân toan khổ nhục mà không ngừng lên tiếng đánh động lương tâm con người, thơ là những nhắc nhở không nguôi:

Nhưng tôi buồn vì đã không nói hết thương đau
Và nếu những lời khai tôi có người nghe đã cũ
Tôi vẫn nói hoài cho nhập óc nhập tim

Thơ có “một nghìn đêm thức trắng” để “lòng ngất đắng thêm nhục mất quê hương”, thơ phơi trải chân thành mọi biến động của đời sống nội tâm trong những tháng năm tị nạn đầu tiên loay hoay quanh quẩn:

Tháng Tù nhục thân phận lưu vong
Nhục ta chưa trả nợ non sông
Mời ai qua cửa người cùng xứ
Vào tát giùm lên mặt trầm ngâm

Nhữg tháng năm mà trong một vài ý thơ u uẩn muộn phiền, ta hiểu nỗi ray rứt sâu kín của Bắc Phong khi chưa có được nguồn cảm hứng đích thực đã khai thông mở lối cho hồn thơ đang khắc khoải vì những thất chí lỡ cơ còn ám ảnh:

Đây là ta nhớn nhác tìm mình
Ngủ biên người mộng rất chênh vênh
Con quốc vẫn tưng bừng nhớ nước
Nên còn ngồi thơ thẩn nói quanh

Điều đáng khâm phục là tiếng thơ anh từ những dằn vặt của thân thế dở dang, những buồn bã với cuộc đời lưu lạc vẫn kiên trì đi lên và hướng vọng về đất nước không ngừng. Chém vào thơ để giết đi mọi ý thức thê thiết bi lụy, Bắc Phong đã dành cho tổ quốc suy tư cao đẹp nhất của một người dân bình thường trước cơn quốc biến, anh nhắn nhủ với thơ anh:

Thơ chỉ làm hồng nhan luống cuống
Xương thịt này người nợ những ai
Non sông nghiêng ngửa lọan
Sao cứ mơ hoài làm mây bay

Không màng chi bóng dáng hồng nhan, gió trăng lãng mạn thơ mới dậy sáng, cũng chẳng cần “thích trán mình hai chữ bút hoa…để biện bác vai trò kẻ sĩ”.

Bắc Phong nhìn thẳng vào thực tại nóng hổi của đất nước để thai nghén bầu thơ Chính khí. Cùng với tòan thể dân tộc đấu tranh dưới bóng cờ đại nghĩa của Mặt Trận đã giương cao, thơ Bắc Phong đã dào dạt chuyển mình. Qua rồi những “đêm mưa ngồi uống rượu… giận mình muốn móc ruột moi gan”, bây giờ phẫn nộ đã nhập giòng, hồn thơ Cách Mạng đã khai sáng mọi bế tắc, lầm than ngày xua. “Bút bén hơi gươm”, thơ thành khí giới khi Bắc Phong viết: “Trận giặc này ai cũng là chiến sĩ”.

 Anh trở thành người chiến sĩ điển hình cho một quan niệm chiến lược kiện toàn nhất trong lịch sử nghìn năm đánh giặc của cha ông: TOÀN DÂN KHÁNG CHIÊN, TOÀN DIỆN ĐẤU TRANH. Điển hình là ở chỗ anh là một nhà thơ nhưng cầm bút như một chiến sĩ, thi ca anh sáng tác ở ngoài nưóc nhưng đã được tất cả đồng bào, kháng chiến quân trong nước mong chờ để đón đọc, để phổ biến. Vượt qua những cách trở gò bó của hoàn cảnh sáng tác trước mắt để thể nhập đồng điệu tâm hồn mình vào đại cuộc đấu tranh giải phóng, điểm điển hình này cũng là chỗ độc đáo của thơ ca Bắc Phong vậy.

Đọc thơ anh, ta cảm nhận được tất cả tâm tình của người đi tranh đấu có niềm tin vững chắc vào hồn thiêng sông núi, có tình yêu son sắt với Tổ Quốc, có gia đình làm hành trang dấn bước:

Đi theo tiếng gọi non sông
Tôi nghe từ mặt trống đồng đánh lên
Đi hành trang có niềm tin
Quyển thơ Nguyễn Trãi và hình vợ con.

Trên đường Đông Tiến gian nguy “qua truông… qua núi” để khai mở lối về đất mẹ, chân phải băng qua lửa đạn mà lòng thì xúc động trước ý chí bất khuất của người dân mặc dầu bị đọa đày khổ cực vẫn bám chắc quê hương, anh lĩnh hội trọn vẹn sức mạnh dân tộc, sức mạnh triều dâng vũ bão của lòng dân khi vùng lên cách mạng:

Đã gang thép tâm tình đi kháng chiến
Dẫu đường đi đầy mìn bẫy hầm chông
Khi lòng dân là triều dâng vũ bão
Sẽ bứt được xiềng sẽ phá được gông.

Lại nhớ đến lời Cương Lĩnh năm nào đã dội vang giữa núi rừng khu chiến “lấy sức mạnh dân tộc làm căn bản, lấy đại đoàn kết toàn dân làm vũ khí”, khi lý giải được tầm mức quan trọng của sức mạnh đoàn kết trong đấu tranh giải phóng, anh phổ vào tác phẩm mình những ý thơ khơi dậy niềm tự hào dân tộc, những ý thơ mà trong bất cứ tình cảnh nào được ngâm lên, hễ còn là người Việt Nam ai cũng thấy gần nhau hơn, yêu nhau hơn từ ý thức có chung một cội nguồn lịch sử và những chiến công hiển hách của cha ông:

Gặp nhau từ phá núi khai sông
Từ gọi nhau chim Lạc, chim Hồng
Từ nhuộm răng, ăn trầu, búi tóc
Từ ngực xâm hình con giao long
Gặp nhau từ khởi nghĩa Mê Linh
Đứa giữ voi trận, đứa tiền binh
Cùng đứng trên bờ ôm nhau khóc
Khi Nhị Trưng sông Hát trầm mình…

Bài thơ như lời diễn ca kể lại thăng trầm của lịch sử trong đó chan chứa tình nghĩa gắn bó của những người nguyện chết bên nhau để giữ thơm đất mẹ. Khi làm thơ diễn sử, Bắc Phong không dừng lại ở xúc cảm hoài cổ chỉ để gợi trong lòng người đọc những buồn nhớ bâng khuâng cho vàng son đã mất. Rất nhiều nhà thơ trước cảnh vật đổi sao dời bởi chuyển dịch của thời gian đã không khỏi ngậm ngùi cho lẽ phế hưng rồi từ đó sinh ra ý nghĩ chối bỏ, tiêu cực với cuộc đời hiện tại. Bắc Phong cũng không nhìn lịch sử ở những hào nhoáng phù phiếm của cung vàng điện ngọc hay giai nhân mỹ tửu. Sử quan trong thơ ca của anh trung thực và gần gũi với tâm tình của tầng lớp nông dân yêu nước đương thời. Tình yêu đất nước, trực giác mẫn cảm và trí tưởng tượng phong phú của một nhà thơ cho phép Bắc Phong phác họa lại một cách sống động những chiến thắng lịch sử lẫy lừng dưới sự lãnh đạo của các anh hùng dân tộc. Ca ngợi công đức của tiền nhân để nhắc nhở người sau bổn phận đối với tổ quốc đang trong cảnh bại vong, sử ca Bắc Phong mang quyết tâm cao độ của người đi đấu tranh tiêu diệt quân thù, hàn gắn lại trang sử dở dang, nhầu nát bởi loài giặc đỏ:

Ôi còn đâu gươm Đại Định
để tang chém phăng đầu giặc đỏ
Bài cáo Bình Ngô
Tưởng chừng còn chép dở chưa xong
Đêm nay ta chích máu viết những dòng run rẩy
gởi về xưa nơi tụ nghĩa Lam Sơn

Thơ Bắc Phong như đã trình bày ở trên là “thao thức tâm hồn kẻ sĩ” rồi “nhập giòng phẫn nộ” để “gang thép tinh thần đi kháng chiến”, trong suốt chiều dài của tiếng thơ húng tráng đó đã ngập tràn chất thép. Tuy nhiên, cũng như chúng ta Bắc Phong không sinh ra là đã biết đấu tranh khiến thơ mình phải bỏng rát với súng gươm lửa đạn, chỉ vì muốn giành lại non sông, cứu lấy đồng bào mà chất thép trong thơ kia đã được hình thành, tôi luyện. Chúng ta vẫn thường nói “trong đấu tranh có những cái rất người” thì ở thơ ca Bắc Phong cái “rất người” đó lấp lánh tràn trề, được thể hiện rõ nét qua tình yêu Tổ Quốc, đồng bào, lòng tri ân đối với quê hương lịch sử và trong sáng thay: trên từng “bước kháng chiến lời thơ vẫn nhẹ” người nghệ sỹ tay viết tay súng trong giây phút chạnh niềm lưu luyến đã nhẹ nhàng gửi vào thơ chút lòng lâng lâng mơ mộng. Cuộc đời chiến đấu bỗng thêm đầy thi vị và ước mơ thanh bình như được đem lại gần hơn qua những ý thơ trữ tình này:

Có mấy bữa giặc lùng tiêu diệt
Đụng trận xong tim thép lại mềm
Hũ rượu cần uống mừng chiến thắng
mơ em ngồi cắn mảnh trăng đêm.

Từ mấy chục năm qua Việt cộng đã khước bỏ tất cả lãng mạn phải có của một con người đúng nghĩa để làm ra nền văn nghệ xuẩn động một chiều hầu phục vụ cho đường lối thống trị sắt máu. Thơ Bắc Phong với những cái “rất người” kể trên đã phản ảnh được tinh thần nhân bản lúc nào cũng bàng bạc trong cuộc đấu tranh coi sức mạnh con tim quan trọng hơn nòng súng hôm nay. Hãy đọc “Bài lục bát Hoa Cau” sau đây để thấy được trong tấm lòng son sắt của cô gái quê chèo xuồng chở đạn tiếp vận kháng chiến, tình yêu quê hương, con người và đấu tranh đã quyện lấy nhau tạo thành hình tượng nghệ thuật rất ca dao mà cũng rất thời đại: thời đại của KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM.

Nước dâng đỏ nước phù sa
Tình dâng ánh mắt như là ánh trăng
Cau mang cho người bẹ măng
Măng kia có ngọt cho bằng tình Cau
Xuồng trôi qua khúc giang đầu
và trăng cũng vẫn bơi sau theo xuồng
Cau mơ giải phóng quê hương
Mũi xuồng Cau lại cắm vuông cờ vàng.

Bắc Phong thật xứng đáng là nhà thơ Kháng Chiến với tiếng thơ toàn bích của thời đại này. Ngày xưa khi chống chọi với thiên tai, đánh đuổi ngoại xâm, cha ông ta đánh trống đồng vừa để biểu dương khí thế dân tộc, thôi thúc tinh thần chiến đấu cũng như tạo dựng giềng mối đoàn kết trong dân chúng. Thơ Bắc Phong hôm nay chắc hẳn là một tiếp nối kỳ diệu của âm vang hào hùng đó.

Cách đây ba năm, khi đài Việt Nam Kháng Chiến cất tiếng giữa không trung Việt Nam, bằng nỗi vui mừng rơi lệ của toàn dân, Bắc Phong đã viết:

Phải tôi đã được nghe
trên một làn sóng ngắn
tiếng gió tung cờ chính nghĩa
tiếng núi chuyển
tiếng sông gầm
tiếng mưa chan hòa nước mắt trong
của dân tôi đã khóc vì mừng

Đến nay Đài ta đã tròn ba tuổi, thơ anh với cảm xúc bừng bừng của tôi ngày nào khi đọc những dòng:

Phải tôi đã được nghe
Tiếng nói Đài Kháng Chiến
Đã thấy mình nóng ruột
muốn đem thân nhập cuộc đấu tranh
cho một ngày tổng khởi nghĩa của toàn dân

vẫn còn đây, vẫn vẹn nguyên trong lòng. Xiết chặt tay anh và xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc tập thơ Chính Ca của Bắc Phong đã được cơ sở Đông Tiến xuất bản.

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: