NHỚ ANH HỔ CÁP

Tưởng niệm HỔ CÁP

Hổ Cáp mặc quân phục

Tôi gặp anh lần đầu, có lẽ khoảng năm 1986 nhân chuyến “lưu diễn” của đoàn văn nghệ Kháng Chiến dịp Ghi Ơn Quốc Tổ vùng Kansai. Mục đích của tôi là muốn nhờ một nhân vật khác đóng góp vào tờ báo của cộng đồng. Hôm đó anh cũng có mặt vì ở chung nhà, Vùng này dạo đó thì đất rộng người thưa, chỉ có một vài gia đình người Việt định cư vắng lặng lắm. 6 giờ chiều là xung quang im lìm không tiếng động.

Sau vài câu chuyện trao đổi, chén chú chén anh thì tôi đã đạt được mục đích ban đầu, và ngay sau đó, đối tượng của tôi tìm được đã trân trọng giới thiệu anh với tôi: “Đây là ông anh tôi, gốc Hải Quân, kiến thức và trình độ anh Ngữ tuyệt lắm, ông nhờ anh ấy giữ một mục đi”. Khỏi nói, như bắt được vàng, tôi nhờ ngay. Anh cười xòa tỏ vẻ đồng tình, và từ đó trở đi tờ báo có thêm nhân vật Hổ Cáp (tên khóa 16 Hải Quân, nơi anh xuất thân) và Vy Anh, xuất hiện một cách đều đặn với những bài dịch truyện như Cây súng săn, Vị sư già của tình yêu v.v.. và còn rất nhiều bài khác.

Anh có dáng người gầy gầy dong dỏng cao với khuôn mặt hiền từ, Tôi thấy Anh cười nhiều hơn nói. Anh em sống ở vùng đó hay lan truyền câu chuyện: để anh và một người nữa cũng ở cùng vùng đối diện nhau xem người nào mở miệng trước và trao đổi được bao nhiêu câu chuyện. Có nghĩa là anh ít nói lắm, nói thì như thế nhưng khi “đụng” vào chuyên môn đời lính biển, thì anh kể ra vanh vách. Tôi nhớ có một lần đăng bài viết lại đưa hình minh họa một chiếc tàu và vài lời chú thích, anh tel ngay cho tôi nhắc nhở: “Không phải ông ơi, đây là khu trục hạm Trần Hưng Đạo HQ1, một khu trục hạm lớn của Hải Quân VNCH và sau đó trở thành soái hạm chỉ huy”, rồi anh say mê giải thích lai lịch một lô về những tàu chiến lớn của hải quân VNCH như HQ2, HQ3, HQ4… Được biết thêm anh là sĩ quan thứ ba trên soái hạm, đứng sau Hạm Trưởng và Hạm Phó.

Anh nguyên là hải quân đại úy, xuất thân từ một gia đình toàn là lính chiến, ông anh cả là thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến đã mất tích vào những ngày cuối tháng 3/75. Có lẽ ảnh hưởng từ ông anh cả, anh rủ thêm một người bạn cùng lớp đăng lính, anh gia nhập trường hải quân tốt nghiệp khóa 16 Hổ Cáp, còn anh bạn anh thì vào trường Võ Bị Đà Lạt và hai người đã trở thành anh em trong nhà khi anh bạn lấy người em gái của anh.

Ở Nhật một thời gian, anh sang Úc định cư, đến tháng 12/2011 thì nghe tin anh đột ngột qua đời vì đột quị. Thật bàng hoàng với bao nỗi tiếc thương.

Rất là nhớ anh nhất là câu nhắn nhủ rất nhẹ nhàng của anh: “Trong hải quân, khi làm việc gì không nên bỏ qua một chi tiết nào dù nhỏ nhặt”. Tôi cũng nghe theo và làm nhưng… không được.

Xin Cầu nguyện hương hồn anh luôn thanh thản và lúc nào anh cũng sẽ sẵn sàng nở một nụ cười nhân ái.

Tháng 2/2019

Vũ Quang

Tưởng niệm ÂU MINH DŨNG

Những lời tưởng nhớ đăng trên Nguyệt san Hiệp Hội sau ngày mất của ông Âu Minh Dũng

Từ Thân Hữu

Viết cho chú Âu Minh Dũng 

Cho con trở lại cách xưng hô quen thuộc như ngày đầu chúng ta gặp nhau. Thật ra, chú lớn tuổi hơn ba mẹ con rất nhiều, nhưng khi con gặp mọi người, thấy các anh chị đều gọi là chú một cách kính trọng và chú bảo gọi vậy cho giống mọi người. Sang đây được 2 năm nhưng khoảng nửa năm sau con mới biết đến cộng đồng mình từ vụ biểu tình phản đối Formosa.

Cả đời con không bao giờ quên kỷ niệm ấy và cũng cảm ơn buổi sáng hôm ấy đã gắn kết con với mọi người. Hơn một năm rưỡi, thời gian không phải là dài, những lần gặp nhau không nhiều nhưng con vẫn cảm nhận được sự ấm áp, nhiệt thành của mọi người. Lần nào gặp nhau chú động viên bọn con học, đọc để hiểu thêm nhiều khía cạnh, chú bảo người trẻ bây giờ kết nối nhanh quá, chú theo không kịp khi thấy anh em bọn con nói chuyện với nhau.

Con đã xúc động khi nhìn chú đáng lẽ ở vào cái tuổi nghỉ ngơi với con cháu nhưng lúc nào cũng bận rộn với công việc, có khi tay cầm bảng phản đối ôn hoà ở hầu hết mọi nơi dù chân đi lại có phần khó khăn. Hơn bốn mươi năm cho công cuộc đấu tranh cho một Việt Nam nhân bản, tự do theo cách riêng của chú. Người ta thường nói “60 năm cuộc đời”, vậy là chú đã hơn 2/3 cuộc đời, tức là từ khi đủ nhận thức là một người trưởng thành cho đến lúc lìa đời chú dành toàn vẹn cho Việt Nam. “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” – chú đã quá nhiệt tâm với Việt Nam. Tính chất công việc khiến chú thường xuyên tiếp xúc với chính khách nhưng với tư cách là một người tị nạn. Dù ở đây hơn 40 năm chú vẫn không đổi quốc tịch mà luôn giữ quy chế tị nạn vì chú muốn nói với mọi người rằng cái chủ nghĩa đó khiến chú và nhiều người khác đang phải trốn chạy. Cũng vì thế mà từ lúc ba mất đến nay hơn 5 năm chú đã không thể về chịu tang, và nguyện vọng thăm mẹ lần cuối đã không thành, có lẽ điều này luôn canh cánh bên lòng chú. 

Hôm qua, khi nghe các anh nhắn với con hung tin đến giờ con vẫn không tin được sự thật chú à. Thời tiết cũng đột ngột trở lạnh nên con và mọi người vẫn chưa kịp thích nghi, trống trải và chênh vênh quá. Một mất mát quá lớn đối với cộng đồng, chú ra đi với nhiều dự định, tâm huyết dở dang còn chưa thực hiện nhưng hãy an lòng chú nhé. Chú đã vất vả nhiều rồi hãy quẳng gánh lại cho thế hệ sau mà nghỉ ngơi đi ạ. Bao năm qua chú cứ mãi bao bọc và lo toan nên anh em bọn con vẫn mãi không chịu lớn. Từ giờ bọn con sẽ cố gắng nhiều hơn, chú hãy nghỉ đi nhé. Cảm ơn đoạn nhân duyên ngắn ngủi nhưng kỳ diệu đưa chúng ta đến với nhau. 

“Kỷ niệm không là gì nếu lòng ta bôi xoá
Kỷ niệm là tất cả nếu lòng ta khắc ghi
Kỷ niệm chỉ một lần gặp gỡ
Mà ta suốt đời mang nỗi đau “
 

Gởi đến chú với tất cả tấm lòng một người trẻ may mắn được chú thương mến. お疲れ様でした.

21/11/2017

***

Vậy là hôm qua mọi người đã tiễn chú… Lần đầu tham dự lễ tang xứ người nhưng con không hề cảm giác trống trải hay đơn độc như từng nghĩ, trái lại còn rất trang nghiêm, ấm áp. Nhiều cô, chú anh chị không ngại xa xôi, cách trở muốn đến viếng chú, nghe vài người tâm sự về những kỉ niệm với chú con càng hiểu rõ hơn về sự hi sinh của người con luôn kính trọng.

Dù có ở đâu thì chú vẫn sống trong lòng mọi người, vậy là đủ… Đối với người Phật tử, khi một người giã từ thân xác, xa cõi luân hồi vô thường vãng sanh về cõi Tây Phương thì người ở lại không nên buồn đau nhưng con chỉ tiếc là thế hệ tụi con nợ chú- những người chiến sĩ thầm lặng nhưng không vô danh lời cảm ơn chân thành. Tuy có hơi muộn màng nhưng con vẫn cảm ơn sự hi sinh của những người như chú dù là con đường tuy dang dở nhưng để lại những công trình đầy giá trị, nhân văn.

Rồi đây, người ta sẽ dành nước mắt, sự kính trọng cho những người như chú chứ không ai khóc thương cho những kẻ bạc ác ngày đêm đấu đá, ăn chia làm tan hoang dãy đất này. Miệng đời sẽ không tha cho những kẻ ăn trên xương máu đồng bào bởi “không gì cản được sức mạnh của tư tưởng, của sự thật khi thời đại của nó đã đến”. Một đế chế bị đánh bại bởi kẻ thù nó vẫn có cơ hội vùng vẫy nhưng một đế chể vỡ vụn từ bên trong nó sẽ chết…

Kính chú. Ở nơi đó rồi ta sẽ gặp nhau…

27/11
Thuc Tran

***

Tokyo – Trời càng trở lạnh!

Đối với những người xa xứ – Việt Nam – ngoài tên gọi Đất nước thân thương, nó như là một nỗi nhớ, một khát vọng da diết muốn được trở về. Đối với Chú còn là khát vọng được thắp nén hương trên phần mộ ông bà, người Cha của mình. 
Thời gian con quen Chú không quá dài, vậy mà mỗi khi nhớ lại là thấy mắt Chú sáng bừng khi có chính khách Nhật nào ủng hộ biển đông Việt Nam, nhớ nụ cười rạng rỡ của Chú khi nói về sự nhiệt huyết của tuổi trẻ chúng con. Chú từng nói rằng ai Chú cũng ủng hộ hết miễn là đóng góp được cho Đất nước…

Con cảm nhận những gì Chú làm không hề mệt mỏi.
Vậy mà mọi chuyện còn đang dang dở, Chú đã ra đi… để lại sự mất mát lớn cho những người còn lại.

Sự bàng hoàng, những giọt nước mắt tiếc thương của những người không phải bà con thân thiết khi nghe tin Chú ra đi, con nghĩ đời người không còn gì nhiều hối tiếc nữa.

Cám ơn vì sự cống hiến của Chú. Mong Chú an nghỉ!

25/11/2017

Thuy Linh

***

Từ bằng hữu

Kính Gởi anh Âu Minh Dũng

Rồi mai đây
Tôi sẽ chết
Trên đường về
Nơi cõi thế
Tôi sẽ mang
Theo với tôi… những gì đây?

Bài hát của Phạm Duy làm tôi ray rứt mãi khi nghe tin anh ra đi trong giấc ngủ yên.

Một đời hoạt động đấu tranh chống chế độ vô sản, anh lại là người vô sản hơn ai hết. Tuy nhiên lúc về bên kia cõi thế, anh đã để lại một tài sản vô cùng lớn và quí giá; đó là tinh thần yêu nước, tư cách trong sáng, cuộc sống thanh bần trong suốt quãng đời đấu tranh. Khi người ta nhắc đến anh, tổ chức mà anh hoạt động gần 40 năm có quyền hãnh diện vì đã có một thành viên sống đẹp đến như vậy. Hình ảnh của anh, chính là hình ảnh của tổ chức.

Tôi hãnh diện vì có thời gian đã làm việc chung với anh 20 năm. Tôi cũng mang hoài bão và lý tưởng như anh, cũng ráng kéo cuộc đời độc thân với thu nhập vừa đủ sống để hoạt động cho tổ chức. Nhưng những biến động công tư đã làm tôi gãy gánh giữa đường mà không có một lời giải thích cho anh, Lúc đó tôi biết anh buồn lắm.

Tôi nợ anh một lời xin lỗi, người Việt tị nạn nợ anh một lời cám ơn; vì trong bước đầu người Việt tị nạn đến Nhật, anh đã giúp chúng tôi hội nhập cuộc sống ở xứ người với tư cách là một thông dịch viên của trại Caritas. Rồi sau đó, khi mọi người đã ổn định cuộc sống, đã biết cách làm giàu thì anh vẫn bỏ hết thì giờ đi vận động chính giới, kêu gọi dân chủ cho Việt Nam, cắm cúi viết bài cho những số báo Hiệp Hội để chuyên chở tin tức, điều hành cơ sở đấu tranh duy nhất trên đất Nhật này cho một ngày mai đất nước tự do.

Anh hy sinh tất cả, cho đến cả hạnh phúc riêng tư. Tôi biết, nếu cần, anh dư sức có một gia đình yên ấm; nếu cần anh vẫn có thể tìm kiếm tiền bạc một cách dễ dàng hơn ai. Sự hy sinh nào cũng có cái giá… mà nếu có đề cập với anh kiểu tình thân chiến hữu thì chắc thế nào anh cũng giỡn lại là: -Tau còn cái giá gì mà hy sinh!

5 năm trước đây, một hành động mà tôi chủ quan nghĩ là “tận dụng tất cả để cho chế độ suy yếu”, có lẽ đã làm anh giận không ít, tôi xin lỗi anh. Tuy tôi đã không có cơ hội giải thích trực tiếp với anh, nhưng qua một người anh khác, tôi đã nhờ nhắn với anh và hôm nay tôi xin xác định lại: “tôi muốn lợi dụng tất cả những gì có được để tạo nên một sức mạnh và phương tiện cho cuộc đấu tranh. Tôi đã làm, đang làm và sẵn sàng làm”.

Dù không còn cơ hội “sống cùng một mái nhà” nhưng tôi vẫn nhớ anh và luôn học anh cái tâm thẳng tắp: “yêu ai cứ nói là yêu”. Tôi nghĩ anh vẫn coi tôi như một người anh em.

Anh Dũng ơi!

Biết rằng anh ra đi như vậy là nhẹ nhàng, là siêu thoát bù lại cho thời gian vất vả vì tha nhân vì đất nước không tự do. Thế nhưng chắc anh vẫn đau đáu vì chưa một lần đặt chân về quê hương trong suốt 42 năm, kể cả lúc người thân thiết nhất qua đời; vẫn khắc khoải vì Việt Nam mình còn quá nhiều áp bức, bất công mà để đẩy bật nó đi thì sức anh em mình có hạn.

Anh tin đi…

 “Sẽ có một ngày cờ vàng bay khắp quê hương

… Đất trời bừng reo sau những năm trong nhọc nhằn!”

Tôi gởi anh hai câu trong bài hát ngày xưa sáng tác cho giấc mơ anh em mình.

Nghỉ yên nhé anh.

Huỳnh Vi

***

Âu Minh Dũng ơi

15.45 phút chiều ngày 19/11 giờ Nhật Bản, có một điện thoại đến:

– Chú Khuê ơi, chú Dũng “đi” rồi! chị vừa khóc vừa nói.

Tôi bàng hoàng và khóc mãi đến bây giờ. Tao nhớ lại và bắt chước chữ của mày khi gặp mày vào tháng 8 năm nay.

– Mày khỏe không? – “Tau khỏe chứ, còn khỏe hơn mày vì tau chỉ lo có một chuyện, còn mày thì lo đủ thứ”.

Tôi hỏi lại:

– Cái đầu mày hình như sắp hết tóc?

– Thì mai mốt mày cũng giống “tau” thôi.

Thằng bạn “Âu Minh Dũng” xuất thân từ xứ Huế đã vĩnh viễn ra đi. Tôi vừa mất một thằng bạn có cái tâm thẳng tắp, không nghiêng ngả. Xác nó vẫn còn trong sở cảnh sát để khám nghiệm. Bây giờ là 20 giờ 43 phút.

Tôi đang khóc…

Ngày 19 tháng 11/2017

***

Dũng ơi, tao nè, mày có nghe tao nói không?

Tao tưởng tượng đang đứng cạnh mày nãy giờ tao hỏi mà chẳng thấy mày trả lời gì cả, hình như mày đang ngủ… Nằm một thân một mình chờ đợi có ai đó đón về, mấy hôm nay chắc mày lạnh lắm, nhưng tao lại cảm thấy lạnh hơn mày nhiều, dù ở trong nhà vặn lò sưởi tối đa, người khoác thêm mấy lớp áo, bên cạnh lại có vợ con. Tao nói như vậy là vì người gặp mày cuối cùng nói: mặt mày vẫn còn hồng hào, thanh thản, tao cũng tưởng tượng hình như mày đang cười chê tao: “mi làm việc ni ốt dột thiệt”. 

3 tháng trước, gặp lại mày nhân lúc có mấy người bạn cũ học ở Nhật ở các xứ khác ghé thăm, trong phần giới thiệu lại “tiểu sử” mày nói: “Ngày tôi sang Nhật, lúc đến Haneda chả có ai ra đón cả, nhưng may quá lại gặp được anh bạn đưa về cư xá, nơi anh đang sống”.
Lúc đang học năm thứ hai (1974) thì phải, tao với mày ở chung trong một căn phòng 4 chiếu rưỡi (khoảng hơn 7 mét vuông), có đêm tao lên cơn nóng lạnh, người mê sảng nói lung tung. Sáng hôm sau, lúc tỉnh dậy, mày nói: đêm qua mày làm tao sợ quá, tao cứ phải đẩy người mày xuống rồi đắp mền cho mày. Tao may quá nhờ có mày bên cạnh.

46 năm sau, trong một đêm đầu đông, lúc mày đang ngủ, thế nào có lúc mày chả cảm thấy khó chịu rồi động đậy, trở mình qua lại, thế nào mà chả có lúc mà mày cảm thấy có cái gì kỳ cục, mày quay qua quay lại, nhưng mày xui quá vì chả có ai bên cạnh, rồi mày im luôn.

“Phải chi, Giá mà…”. Tao từng giải thích cho học trò rất rõ ràng về cách dùng 2 từ này và hôm nay tao thấy thấm thía về ý nghĩa. Tao vẫn tự hỏi mấy hôm nay: “Phải chi”, “Giá mà…” và lẽ dĩ nhiên là không có câu trả lời.

Tao định viết nhiều cho mày theo lời yêu cầu từ bạn bè, nhưng khó cho tao quá. Tao gặp mày cũng đã 46 năm, tao biết mày và mày biết rõ tao, không biết tao sẽ bắt đầu viết từ đâu và chấm dứt khi nào.

Thôi tao quyết định không viết gì thêm nữa, vì tao vẫn nghĩ rằng, một lúc nào đó mày lại xuất hiện gọi tao: Khuê ơi, tau nè. Mày thường nói với tao những điều chỉ tao với mày biết. Mày ở trên đó nhớ cầu nguyện cho tao những gì mày muốn tao làm nhé, chứ tao yếu lắm Dũng ơi, tao thua mày xa.

Thôi tao ngừng.

9 giờ sáng 23 tháng 11/2017

***

Vô cùng thương tiếc

Sau ngày 30 tháng 4/75, giữa lúc mọi người còn đang ngơ ngác, giận dữ, thống trách đau khổ, thì có một số người trẻ tuổi tại Đông Kinh đã đủ bình tĩnh mở cuộc họp báo để minh xác với thế giới cuộc chiến đấu cho tự do của dân tộc Việt Nam vẫn tiếp tục vì “chúng tôi còn hiện diện để tiếp nối những bước đi lịch sử của cha ông”. 

Ngay khi mọi người chưa hết bàng hoàng sau cơn hồng thủy và còn đang hoang mang vì cuộc sống xa lạ, đầy trắc trở của một xã hội hoàn toàn khác biệt về phong tục, ngôn ngữ, sinh hoạt thì có những quân nhân trẻ có già có từ cấp binh nhì tới cấp tướng lãnh, âm thầm ngồi hoạch định cho ngày trở lại Việt Nam. Khi mà cả nước bị gông cùm đỏ trùm lên, không khí bị ô nhiễm vì hận thù, vì tù ngục cải tạo, vì những lừa bịp trắng trợn thì có những thanh niên thiếu nữ bỏ vào rừng hay ngay trong lòng địch âm thầm tổ chức thành những nhóm nhỏ chiến đấu. 

Rồi họ tìm đến với nhau, rồi họ liên lạc nhau, rồi họ kiểm điểm hàng ngũ, rồi họ hoạch định kế sách. Tất cả đã nối kết nhau vì lý tưởng cao cả: giải thoát dân tộc khỏi gông xiềng, trả lại cho người dân tự do, công bằng và nếp sống an vui bình dị.

Nhưng giữa đường, lực bất tòng tâm, một số trong họ đã anh dũng hy sinh trên đường mở lối về đất mẹ. 

Tuy nhiên, những chiến hữu của họ ở khắp nơi đã không dừng lại ở đó, họ vẫn bình thản hiên ngang bước tới bằng mọi hình thức, họ không dùng súng đạn như đã bị “chụp mũ, tuyên truyền”, họ chỉ chủ trương “tình yêu đây là khí giới, tình thương đem vào muôn nơi”, nhưng đôi khi lại gặp phải những nghiệt ngã của đất trời khiến họ phải bỏ cuộc, trong số âm thầm đó có Âu Minh Dũng, tuy làm dài thêm danh sách những hy sinh cao cả, nhưng sẽ là chất xúc tác thâu ngắn lại bước đường mà họ đã chọn cho đất nước Việt Nam. 

  Vô cùng thương tiếc “Âu Minh Dũng” – Một Kháng Chiến Quân Việt Nam”

18 giờ 32 phút ngày 27/11
Vũ Đăng Khuê

***

Từ chiến hữu

Một Đời Thương Tiếc Anh, Âu Minh Dũng
Tiễn người về chốn nghìn thu
Chiều đông ảm đạm mây mù giăng quanh
Than ôi việc lớn chưa thành
Xa xăm đất Mẹ vắng anh ngày về
Xưa đi mang nặng tình quê
Sơn hà biến chuyển chẳng hề đổi thay
Xứ người muôn trải đắng cay
Lòng son dạ sắt đong đầy chẳng vơi
Chí hùng sóng cả biển khơi 
Cơ đồ dựng lại rạng ngời sử xanh
Thương thay lá vội xa cành
Anh hùng đoạn gánh thôi đành biệt li
Nghẹn ngào giữa phút phân kỳ
Nhìn anh lần cuối bờ mi lệ tràn
Tuyết rơi trắng một màu tang 
Trời kia như cũng thở than đưa người.

L.T. 19/11

***

Tiễn Bạn

Mới ba hôm trước siết tay nhau
Mừng rỡ hàn huyên chuyện trước sau
Chung rượu cạn ly tình bạn thắm
Hẹn nhau tái ngộ chỉ tuần sau
Tin bạn ra đi như sét đánh
Không lời từ biệt ngỏ cùng nhau
Để lại bạn bè bao luyến tiếc
Gia đình, Chiến hữu lắm thương đau
Bạn của tôi:
– là gương sáng của từ bi, độ lượng
– Nhân ái, giúp người, luôn tử tế với tha nhân
– Giúp đồng bào tị nạn mọi chuyện, rất ân cần
Vị bụt dễ thương của cõi Trần hiếm quý
Yêu nước, thương dân tộc, – anh hết lòng tận tuỵ
Bốn thập niên xả thân tranh đấu, quên mình 
Đem tự do, yêu thương về – cho Việt Nam rạng ánh bình minh
Nay mộng chưa thành, anh đã phải ra đi giữa muôn vàn thương tiếc
Nhưng tôi tin, và các chiến hữu ta đều biết
Chốn thiêng liêng anh vẫn dõi lòng, 
Phù hộ cho con đường tranh đấu sớm thành công
Khai mở dịp canh tân, lật trang sử mới
Yên tâm nhé anh nơi chân trời mới
Vì chúng tôi vẫn một dạ sắt son
Vững chãi bước trên đường mở tương lai cho dân tộc
Anh sống bình dị, thánh thiện 
Ra đi an bình, thanh thản
Siêu sinh tịnh độ nơi cửa từ bi
Nghìn thu vĩnh biệt người bạn thiết 45 năm và chiến hữu của tôi.

Lý Thái Hùng và Trần Diệu Chân

***

NGÀN NĂM THƠ THẨN BÓNG TRĂNG CHƠI

Tưởng niệm NGUYỄN HỮU NGỌC

Chân dung Nguyễn Hữu Ngọc

Tôi viết những dòng này cho một người bạn quen nhau đà hơn 30 năm rồi. Thuở tóc hãy còn xanh ấy mỗi khi hồi tưởng lại khiến lòng cứ miên man chìm đắm trong biết bao kỷ niệm từ chuyện này đến chuyện kia, kể hoài không dứt. Bởi đó là những tháng năm đầu đời xa lìa quê hương: bà con xa không bằng láng giềng gần, huống chi là một người bạn ăn ý với nhau ở nhiều điểm và lại cùng chung một lý tưởng dấn thân. Tôi thường ví tình bạn trong cuộc sống lưu vong gần giống với tình yêu của những người lính với nhau. Trong chiến tranh bom đạn, giữa cái chết rập rình, tình đồng đội ấm áp ngoài ý nghĩa giúp người lính giải tỏa các áp lực tinh thần, dắt dìu nhau vượt qua khó khăn gian khổ, nhưng quan trọng hơn cả, tình chiến hữu gắn bó đó giúp giảm nhẹ cô đơn để yêu sống và chiến đấu can đảm hơn. Bởi lẽ, không có nỗi cô đơn nào khủng khiếp và lớn hơn cô đơn của con người trước cái chết. Người lưu vong sống như “thú hoang lạc đàn”[1] cũng gần giống thế. Dù không đối diện trực tiếp với chết chóc thể xác nhưng trước một xã hội xa lạ, đầy dẫy áp lực hiếp đáp tinh thần, người tỵ nạn Việt Nam đã phải lâm vào cuộc chiến cân não không kém khốc liệt để vừa chống chỏi vừa hội nhập.

Đối với tôi, ấn tượng đầu tiên là bài viết của bạn đăng trên báo khi vừa đi tham dự trại Hè 1984 do Hiệp hội người Việt tại Nhật tổ chức về, với lối viết nhẹ nhàng ở nhiều câu, rồi chợt làm người đọc dâng trào ở một số câu, và tựu chung lối hành văn của toàn bài vẫn rất mực bình thản, đôn hậu. Văn là người, đọc văn, tôi không khỏi liên tưởng đến vẻ mặt hiền hòa, gọng kính trắng trên khuôn mặt hơi gầy cứ luôn xệ xuống rồi lại được đưa lên bằng ngón tay trỏ co lại…Mất mẹ vào lúc tuổi còn nhỏ, khi đang tảo tần trên chuyến xe hàng vượt đèo Hải Vân thì tài xế mất tay lái, tuột dốc…Cái chết thảm khốc của người mình yêu quý nhất hình như đã đè nặng cả đời mà một ví dụ có thể được kể ra là chưa bao giờ tôi thấy bạn cười hả hê, to tiếng. Mất mẹ, rất có thể chúng ta mất nụ cười. Nếu nói như Nhất Hạnh :“Mẹ là Khoa trưởng phân khoa Tình yêu trong Đại học trường Đời” thì bạn tôi không may để tốt nghiệp được “bộ môn tình yêu”, nhưng lạ thay, cuộc sống với những bù đắp nhiệm màu của nó, 30 năm qua, tôi vẫn chưa nghe một ai phàn nàn rằng bạn là người sống thiếu tử tế. Và tôi tin rằng chính mẹ khi còn sống cũng như lúc mất đã luôn bên bạn để dạy dỗ rằng sống sao cho thật tình cảm chan hòa.

Tôi nhỏ tuổi hơn nhưng lấy vợ trước để rồi phải quay cuồng với công việc hãng xưởng mưu sinh nuôi nấng gia đình, “mang thân ra chốn xứ người, thằng nhỏ lên mười cũng gọi bằng anh”, giữa nhịp đời nhiều lúc nghiệt ngã đó thì những ly rượu trong buổi nhậu cuối tuần với nhau đã giải tỏa rất nhiều phiền muộn, bức xúc trong cuộc sống đời thường. Tôi biết ơn bạn dù bận rộn với công việc riêng nhưng vẫn dành thời giờ để tôi trút bầu tâm sự mà phần nhiều là chuyện hãng xưởng chẳng liên quan gì đến người phải nghe nó. Ôn lại chuyện cũ mới thấm thía câu nói “một người bạn thân là một mặt trời nhỏ”, càng sống xa nhà, mặt trời ấy càng không nhỏ.

Rồi cũng như tôi, bạn lập gia đình, xoay sở nuôi con do vậy mà gặp nhau ngày càng ít. Cho đến một buổi tối mùa Đông cách đây 12 năm, khi nghe bạn trình bày quyết định phải về làm việc tại Việt Nam vì một lý do đặc biệt thì tôi như té ngửa, lòng dạ ngổn ngang vừa thương cho cuộc sống lao đao lận đận, vừa giận phần nhiều do cảm giác dỗi hờn mất mát. Dù biết là bạn đã suy nghĩ nhiều lắm trước quyết định này và dù biết mình không thể giúp đỡ gì hơn nhưng tôi vẫn nặng lời ngăn cản và chắc là đã có những câu nói xúc phạm tự ái. Mãi đến bây giờ vẫn chưa quên được khuôn mặt im lặng trước tay lái trên đoạn đường bạn đưa tôi về nhà hôm đó: có chút khổ đau, thất vọng pha lẫn trong cam chịu không lời. Có lẽ tôi đã phải nói khác đi, thay vì trách móc mà phải bình tĩnh hơn, rộng lượng hơn để động viên cho đoạn đời cam go đang đến đó. Phải nhiều năm sau, tôi mới hiểu ra là bạn đã chờ đợi ở tôi điều gì vào lúc đó, vào thời điểm mà tôi cần xứng đáng là một người bạn thân thiết.

Cuộc sống cứ chảy mãi một dòng, cuồn cuộn miệt mài, xa mặt cách lòng, chúng tôi tản mác nhau mỗi người một ngã và chỉ còn thi thoảng nhớ nhau qua câu chuyện với những bạn bè khác. Tuổi trẻ thấm thoát rồi cũng trôi qua để chúng ta bắt đầu quay dần lại với quá khứ. Mà quá khứ thì thường có màu không vui.

Kỷ niệm cũ vẫn còn nguyên vẹn đó

Trời tháng Giêng tháng Bảy buồn như nhau.[2]

Tuy nhiên, này bạn, vẫn còn đây, mồn một trong ký ức những đêm lửa trại “tâm sự đời tôi” thầm thì bên bờ hồ núi Phú sĩ, lần dã ngoại Nikko cãi nhau với P. nhiều hơn là đi chơi vui vẻ, chuyến đi Himeji dằng dặc vì chờ xe D. mất trọn ngày đường, suối khuya Okutama chuyện trò đến 3h chiều hôm sau mới vãng…rồi tiếng đàn thùng đệm hát boléro ứ ừ khi say xỉn cho đến lần cao hứng mạn đàm văn nghệ với bác P. Duy “hát cho vũ trụ lung lay, vũ trụ lung lay thì hát cho vũ trụ đứng lại”…khối kỷ niệm trai trẻ ấy dễ gì quên được. Phải chi cuộc đời mãi đẹp như những năm tháng đầy ắp tiếng hát đó. Con đường chọn lựa nào cũng bắt chúng ta phải bốc thăm với định mệnh, đẩy đưa với số phận…để rồi tháng 12 năm ngoái, hơn 6 năm tôi gặp lại bạn lúc đang vật vã với ống thở trên giường bệnh ngặt nghèo. Cảnh huống đau lòng đó đã làm tất cả anh chị em bè bạn đi thăm hôm ấy đỏ hoe đôi mắt. Bàn tay to với những ngón dài mang bản lĩnh đàn ông và khéo léo trong nhiều công việc lao động khác nhau ngày xưa giờ đang rũ ra, sóng soài bên mép giường. Cả cơ thể dường như đang thu lại nhỏ nhoi, phập phồng trong từng hơi thở được chuyền qua máy cấp dưỡng khí, và trong khi tất cả chúng tôi đều mất bình tĩnh thì chỉ có cháu gái tự nhiên chuyện trò với bố, câu chuyện có người nói mà không có người đáp. Tôi nghe tiếng được tiếng mất những lời thoại này, không hiểu sao lại chợt nhớ đến mấy câu thơ Hoàng Cầm:

Ta con bê vàng lạc dáng chiều xanh 
Đi mãi tìm sim chẳng chín…
 
Dóng dả gọi về đồng sương
 
Đôi ba người lận đận…

Cây ổi giơ xương 
Chống đỡ mùa đông xập về
 
Đánh úp…

       Có lẽ nào, bạn tôi ơi, đang bất động trên giường mà thần hồn thì như con bê lạc đồng cỏ, đi mãi suốt đời chẳng tìm được trái ngọt, để rồi lận đận, chống đỡ, để rồi xập về… đánh úp. Cuộc đời này dường như được chắp nối bằng những chuyến đi, từ bước đi chập chững đầu đời cho đến khi đi học, đi lính, đi làm ăn xa, đi di tản để cuối cùng là đi về… dưới sự dẫn đường của định mệnh, mà định mệnh thì đến như một ngọn gió thổi qua tung đám bụi mờ để từng hạt bụi bắt đầu cuộc tuần du ở trăm nghìn nẻo đường khác nhau trước khi lại rơi xuống về nghỉ ngơi với đất. “Quê hương mà, rồi mình cũng phải về mà thôi”, đó là câu nói mà 12 năm trước bạn đã nói với tôi trước lúc giã từ, một giọng nói luôn nhẹ nhàng nhưng tha thiết xiết bao. Tôi nghĩ đến con cá hồi sau những năm tháng lênh đênh ở nhiều vùng biển lạc loài đã vượt mọi thác ghềnh tìm về đầu nguồn nơi nó được sinh ra. Dù đục dù trong, vẫn tìm về thôi thúc, khôn nguôi.

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi,

đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…[3]

       Hôm nay, nhận tin bạn quyết định về lại quê nhà dưỡng bệnh sau khi được bác sĩ thông báo là không sống được bao lâu nữa. Tôi ngồi đây cứ thẩn thờ mãi cho đời sống vô thường và vội viết những dòng này để nhớ về một tình bạn, một đoạn đời với các tháng năm không thể nào quên. Không có lời chúc nào ý nghĩa trước cõi hết. Mà chỉ là những nhức nhối trong tim của người ở lại cứ mãi ray rứt về một câu hỏi từ hằng nghìn năm nay: con người sinh ra để làm gì ?  Tôi ở xa không về kịp trước ngày bạn đi, xót lắm, thôi thì, một đoạn thơ Tản Đà làm quà tống biệt bạn nhé.

Đá mòn, rêu nhạt,

Nước chảy, huê trôi,

Cái hạc bay lên vút tận trời!

Trời đất từ đây xa cách mãi.

Cửa động,

Đầu non,

Đường lối cũ,

Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi

Thái Văn Hòa


[1] Lời nhạc Nam Lộc

[2] Thơ Nguyễn đình Toàn

[3] Lời nhạc Trịnh công Sơn

VĨNH BIỆT KÝ GIẢ BÊ TÊ

Tưởng niệm BÙI BẢO TRÚC

Chân dung Bùi Bảo Trúc

Cuối tháng 12 năm ngoái, tin nhắn điện thoại từ một người bạn cho biết ký giả Bê Tê, tức nhà báo Bùi Bảo Trúc đã qua đời, mẫu tin dù ngắn ngủi nhưng rất khó quên với dòng chữ cuối: anh em chúng ta nợ ông ấy rất nhiều!

Bây giờ ở nơi xa ấy, ông có thể đang nhậu rượu vang pinot noir, đang đọc sách, hoặc ngồi thừ bên trang giấy trắng trước khi bước vào một bài viết như đã từng làm hằng vạn lần lúc còn tại thế…Nhớ ông, ngồi đọc lại những mẩu chuyện Thư gửi bạn ta để biết rằng khi không còn Bùi Bảo Trúc, người đọc Việt Nam đã mất đi một tiếng cười trong văn học. Tiếng cười mà chỉ có Bùi Bảo Trúc mới mang lại cho chúng ta từ những chi tiết tưởng thật tầm thường, đã nấp dạng thật lâu trong đời sống nhưng bỗng trở nên sinh động một cách bất ngờ qua cái nhìn và câu chữ của ông. Là một tên tuổi quen thuộc với người Việt hải ngoại, nhà báo Bùi Bảo Trúc với bút danh khác là Bảo Lâm, sinh năm 1944 tại Miền Bắc Việt Nam, sau khi du học tại New Zealand, ông về nước năm 1967 và trở thành phát ngôn viên chính phủ Việt Nam Cộng hòa đến 1974 thì được cử sang Anh quốc làm việc. Sau biến cố 75, ông chuyển nơi sinh sống và làm việc từ Anh quốc sang Canada rồi Hoa kỳ, cộng tác viết báo và phát thanh cho các đài VOA, Little Saigon Radio, Viet Tide, Người Việt, Hồn Việt TV…

Trong gần 40 năm gắn bó với báo chí truyền thông hải ngoại, yếu tố xuyên suốt nào đã làm nên sự ủng hộ của đông đảo độc giả, khán thính giả hâm mộ Bùi Bảo Trúc? Xin mượn câu thơ của Cao Tần cùng thế hệ với ông để trả lời rằng:

Bài học lớn từ khi đến Mỹ
Là ngày đêm thương nhớ nước mênh mang

Cho dù ông viết thật nhiều, viết thường xuyên, viết ròng rả về đủ chuyện trên trời dưới biển, đủ mọi loại người, không né tránh, khuất tất, không ngại va chạm, ngộ nhận hiềm khích, nhưng rất đông người đọc yêu mến ông vì từ đáy sâu của những dòng chữ ấy là một tâm hồn luôn khắc khoải về quê hương, một trái tim luôn “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”[1]. Việt Nam, ngoài ý nghĩa địa lý của nơi chốn muốn trở về, đối với Bùi Bảo Trúc còn là địa chỉ cư ngụ của hằng hà sa số những kỷ niệm lớn bé mà trí nhớ siêu phàm của ông đã dung nạp tất cả để rồi người đọc, khi đã quen hơi ông viết, sẽ thấy phảng phất đâu đây những mùi vị, hương màu cho đến những giá trị vàng son của quá khứ êm đềm, đầy luyến tiếc đã được ông mang lại bằng lối viết cứ như là kể chuyện, thủ thỉ tâm tình.

Trên dưới 1.000 chữ trong trang viết ký mục hay còn gọi là đoản bút văn học của ông có nhiều điểm giống với bút pháp thơ Đường tứ tuyệt có 4 phần cấu trúc nội dung: Khởi (nêu vấn đề), Thừa (luận bàn), Chuyển (phản luận, giả thuyết), Kết (giải quyết), đó không phải là những bài tiểu luận theo logic phương Tây thể hiện trong cách viết Paragraph Writting với từng đoạn văn diễn tả từng ý một, tuần tự triển khai vấn đề mà chúng ta thường hiểu qua cấu trúc 3 phần : Mở đề, Thân bài, Kết luận. Ở rất nhiều bài viết, tác giả đã sử dụng khéo léo thủ pháp Thừa, Chuyển này. Tế bào ếch trong phòng thí nghiệm có thể được dùng để trách mắng phường tiểu nhân thiển cận ếch ngồi đáy giếng, mùi nước hoa trên thân thể cô đào điện ảnh tiếng tăm thế giới có thể sẽ làm sống lại sắc màu thơ dại của cành hoa bứt trộm tuổi học trò, chữ …éo tục tĩu có thể được cất nhắc làm vũ khí tuyên vận chống kẻ thù một cách sống động không ngờ.

Như đã có lần tâm sự, trước trang giấy trắng của rất nhiều bài viết, ông ví mình như con thuyền không tay chèo lái, phó thác vào dòng chảy cảm xúc cho đến khi ý tưởng dứt điểm lóe lên vào những dòng chữ cuối, khó có nhà văn nào thay thế được ông ở bút pháp có thể làm chúng ta nghiêng ngửa chỉ trong một vài chữ xoay chuyển lật ngược này.

Thông thường, trước khi viết, hầu hết nhà văn đều định hướng trước điểm đến, suy nghĩ về điều muốn viết và kết luận, do đó người đọc có thể đoán được ý định của tác giả từ giữa chừng bài viết, thậm chí là ngay từ những câu chữ đầu tiên. Nhưng đối với Bùi Bảo Trúc, người đọc nôn nao cho đến tận vài chữ cuối cùng, ví như cột neo xong, chúng ta mới biết là thuyền đã cập bến. Viết được vậy, là nhờ ở kiến thức bao la, trí nhớ thâm hậu, hơn thế nữa, một nhận thức luận (epistemology: lý thuyết cho rằng tri thức con người nằm trong tổng hòa của chân lý và niềm tin) thiên phú đã bàng bạc trong đầu ông sau mỗi lần ngồi xuống trước trang giấy. Riêng về trí nhớ, Bùi Bảo Trúc cũng cho chúng ta một bài học rất hay về sự liên tưởng khi ví von cho rằng: trí nhớ dính chùm với nhau. Tựu chung, các dữ kiện của ông nêu ra đa phần là biểu hiện của phương pháp liên tưởng “dính liền”, chỉ khác là ông đã đặt để tất cả sự kiện của ký ức đó trên chuỗi suy nghĩ không chỏi không “phô” trước khi dẫn về kết luận.

Ở một lối viết khác mà người đọc không kém phần yêu thích, đó là khi ôn lại kỷ niệm của những người thương yêu trong gia đình hoặc bạn bè thân thiết. Khác hẳn với lối hành văn ngông chua thường được sử dụng trong các phiếm luận phê phán, người đọc như bồi hồi thấy được con người đầy tình cảm của tác giả bằng những câu viết đi thẳng từ lòng dạ đem trọn vào trên trang giấy. Chiếc cặp da cũ sờn màu năm tháng của đời sống tiết kiệm, tiếng chuông xe đạp kính coong nhẫn nại đèo con đi học, mùi mô hôi sau làn áo bạc màu…đức hạnh của người cha tỏa sáng ấm áp từ những chi tiết nhỏ nhặt, thầm kín nhưng đã được ông khắc sâu ghi nhớ…trong những bài viết về cụ thân sinh nhà giáo Bùi Văn Bảo là một ví dụ. Người đọc chợt nhận thấy ở ông một dáng dấp khác: hiền hậu và nhân ái qua những dòng chữ chân thành hiếu thảo phơi bày trên từng dòng viết này. Lòng thương người cũng là đức tính đáng ca ngợi của ông khi thường xuyên chính mình thực hiện cũng như kêu gọi mọi người giúp đỡ cho đồng bào dân oan, trẻ em thiếu trường học trong nước. Ông cũng luôn là một trong những người phát động đầu tiên cho các đợt quyên góp cứu trợ trên diện rộng mỗi khi thiên tai, nhân họa xảy ra tại Việt Nam.

Bùi Bảo Trúc còn là nhà văn của sự tinh tế và mẫn cảm, đặc biệt là khứu giác bén nhạy và bền bĩ đã giúp ông sống lại với những mùi hương dĩ vãng của năm hoặc sáu mươi năm trước. Đồng ý rằng khứu giác là giác quan có ký ức lâu nhất và một mùi hương nào đó có thể làm sống lại cả khung trời kỷ niệm nhưng chỉ khi đọc Bùi Bảo Trúc chúng ta mới cảm thấy lâng lâng thú vị khi được tác giả gợi mở, gọi về và làm trỗi dậy, hồi sinh các kỷ niệm tinh khôi ẩn nấp sau một mùi hương nào đó. Ở trên gác nơi các con ta ngủ, Mấy chục năm rồi, mùi chúng vẫn đâu đây…[2]: ông nhớ đến con mình trong bài thơ nói về giấc mơ trở lại nhà cũ ở Sài Gòn.

Mấy chục năm rồi, mùi chúng vẫn đâu đây… mùi của những người con đã là một phần thân thể, và ai đã làm cha già, neo đơn vì con cái sống xa gia đình mà không khỏi chạnh lòng, khắc khoải? Hoặc khi nói về câu hát : “anh xa em thật rồi, làm sao quên mùi tóc” của Trần Thiện Thanh, ông nhắc lại mùi tóc dưới mưa, trong quán, bên hiên, ngoài ngõ, giữa đồng, trên núi…ông làm chúng ta choáng váng, sững sờ trước phát hiện tinh tế của mình, và có thể khiến cho hằng triệu người đã từng hát ca khúc này trên môi sẽ biết ơn hơn tác giả tài hoa của nó, do đó, cũng không sai khi nói rằng ông giúp chúng ta nâng cao tính cảm thụ, chí ít thì đã khiến chúng ta biết để ý đến các giá trị tiềm ẩn trong một tác phẩm văn học nghệ thuật.

Sinh thời, Bùi Bảo Trúc cực kỳ ngưỡng mộ và cũng là chỗ thâm giao với nhà văn Võ Phiến. Đã có lần ông ca ngợi : “Võ Phiến không chỉ chẻ sợi tóc làm tư, mà chẻ làm 16, 20!” nhằm nói lên sự phân tích tỉ mỉ sâu sắc của nhà văn phiếm luận hàng đầu Việt nam này. Bùi Bảo Trúc không chi ly như thế, trái lại, biệt tài của ông là nối kết các sự việc, thay vì chẻ sợi tóc, có thể ông buộc thêm vào sợi tóc đó cơn mưa giông đầu hè, hoặc làn gió thu bay rối bời và cũng có thể là đĩa muối tiêu rang hoặc những bờ bãi tuyết trắng cho một sợi tóc đã ngã màu, vân vân và vân vân.

Ông đi, về, tung hoành đông tây ngang dọc thanh thản giữa không gian cũng như trục thời gian của chuỗi sự việc và con người, nhiều bài viết của ông mở ra như một vũ trụ nhỏ, giãn nở dần theo trí tưởng của người viết cộng hưởng với hứng thú của người đọc. Từ điểm gốc 0, Võ Phiến chẻ dần sự việc về hướng tọa độ âm, ngược lại, Bùi Bảo Trúc triển khai theo độ lớn dương, chung qui cũng là để mô tả bản chất của một vấn đề muốn bàn đến. Văn học, cũng như các bộ môn nghệ thuật khác có mục đích cuối cùng là nói lên sự thật để mô phỏng tái hiện (Mimesis) một sự việc, một tồn tại. Gợi nhớ lại nhiều sự việc liên quan chung quanh bằng lối viết mạch lạc, duyên dáng cũng là một phương pháp hiệu quả mà Bùi Bảo Trúc đã giúp chúng ta hiểu thêm về bản chất của vấn đề.

Trước khi viết bài này, chúng tôi có dịp đọc lại một số bài viết Thư gửi bạn ta trong những năm gần đây thì nhận thấy văn phong của ông càng đứng tuổi càng thong dong, ít phần câu nệ. Ví dụ trong bài viết: “Cầu mong ơn trên giúp làm được những điều tâm nguyện viết ở trên. Nếu không làm được thì…cũng chẳng sao cả”, là câu kết của những lời ước trong năm mới như: “Xin cho Michelle Obama xinh một chút xíu. Mong cặp giò Hillary Clinton được thon thả để nàng khỏi phải mặc pant suit vì nhiều người trông sốt ruột lắm rồi. Tin những điều đọc thấy trong face book đều là sự thật. Không ghét cay ghét đắng hai chữ “chia sẻ” hay “sẻ chia” nữa mặc dù vẫn không dùng chúng. Nghĩ là Nguyễn Thanh Phượng càng béo càng đẹp giống con mẹ nó. Tin là Nguyễn Tấn Dũng quả thật có bằng cử nhân Luật mặc dù không biết nó học ở đâu và hồi nào.Cố gắng cười theo khi mấy emcee pha trò vô duyên chưa nói đã cười. Cố chải mái tóc cho giống tóc của Donald Trump.

Những bài viết về các sự việc tầm thường đang bộn bề xảy ra hằng ngày trong đời sống như thế khó có thể được đưa vào văn chương nếu không phải là kết quả của một tư duy viết lách lâu năm đã đạt đến nguyên lý “nhẹ nhàng” thường thấy trong đường lối sáng tác của các nhà nghệ thuật già dặn đặc biệt tại Nhật Bản. Matsuo Basho là một điển hình. “Karumi” (sự nhẹ nhàng) là triết lý sáng tác vào lúc cuối đời của thi hào này, lúc đã ngộ ra rằng mọi chuyện tầm thường nhỏ bé trong đời sống hằng ngày đều lấp lánh màu sắc riêng tây nếu chúng ta biết biểu hiện nó một cách trung thực và điềm tĩnh. “Vật ngã nhất tri”, nhẹ nhàng để thật sự hòa trộn bản ngã vào trong bản thể sự vật, để chiếu được ánh sáng vào góc phần sâu thẳm chưa được phơi lộ. Hội họa cũng thế. Sau hơn 30.000 bức tranh đủ loại, vào tuổi 89, Hokusai đã vẽ tác phẩm cuối cùng bằng một màu mực đen đơn giản về ngọn núi Phú Sĩ vốn đã được ông vẽ nhiều lần, bằng nhiều màu trước đó. Ngọn núi dù chỉ bằng một màu nhưng ở một góc nhìn khác, nhẹ nhàng hơn, giúp chúng ta hiểu ra đằng sau cuộc sống bình thường này có một ngọn núi, một tự nhiên bao la cũng giống như chúng ta vẫn đang hít thở, tồn tại đêm ngày. Bốn mươi năm viết văn của Bùi Bảo Trúc với những bài viết cuối đời có nhiều nét nhẹ nhàng hao hao như thế: “Cầu mong ơn trên giúp làm được những điều tâm nguyện viết ở trên. Nếu không làm được thì…cũng chẳng sao cả”, cuộc sống vẫn chảy, dòng đời cuộn trôi, ông nhẹ nhàng gửi đến đời sống những dòng chữ bâng quơ, những ước nguyện không chắc sẽ thành, ông khiến người đọc chợt cười lên đôi giây phút để rồi nhận ra rằng đúng là “cũng chẳng sao cả”…văn chương theo Nguyễn Du là “mua vui chỉ đủ một vài trống canh”, ở Bùi Bảo Trúc là “nếu không làm được thì…cũng chẳng sao cả”. Nguyễn Du để lại cho đời truyện Kiều, hơn 20 nghìn bài viết của Bùi Bảo Trúc chẳng thể nào đem ra so sánh với đại thi hào này nhưng chắc chắn sẽ không phải là một di sản nhỏ bé của văn học Việt Nam trong 40 năm ly tao sau biến cố 1975.

       Anh em chúng ta nợ ông ấy rất nhiều!, dòng mail của người bạn ngày 17/12/2016 sau khi Bùi Bảo Trúc mất đã một ngày lại vang lên trong đầu. Chúng ta nợ Bùi Bảo Trúc một ân tình khôn nguôi với quê hương, một tâm hồn luôn quyến luyến với từng giá trị tinh thần của dân tộc, một nghiệp dĩ báo chí nói thay chúng ta những điều muốn nói và sau cùng riêng với Nguyệt San Hiệp hội, từ 30 năm nay, chuyên mục “Chuyện cái sự đời” đã được ông hào hiệp cấp phát bài vở cho từng số báo. Ông ra đi, khi thế hệ đàn em chúng tôi chưa kịp được trả ơn to lớn đó. Mất mát này không nhỏ và sẽ khôn nguôi mỗi khi suy nghĩ về một con chữ nào đó của tiếng Việt yêu dấu nghìn đời. Chúng tôi sẽ lại nhớ ông.

Phan Mạnh


[1] Lời nhạc Phạm Duy            

[2] Thơ Bùi Bảo Trúc

TÍNH ANH VẪN THẾ – NHỮNG KỶ NIỆM VỚI NHÀ BÁO LÊ THIỆP

Tưởng niệm LÊ THIỆP

Chân dung Nhà báo Lê Thiệp

“Mẽo hay nói: No news is good news, không thấy quân ta liên lạc, như vậy là động đất và tsunami vẫn không làm quân ta hề hấn?”

“Gửi ông bài tôi viết đọc cho vui, không thích thì cứ thẳng tay vứt vào thùng rác.”

“Đã lâu quá rồi, thấy ông cứ ru rú trong xó, làm một chuyến Mỹ du, thăm dân cho biết sự tình đi. Có cần thì cậu Thiệp chi tiền vé cho.”

Mail của anh đại loại là như vậy, vẫn cái giọng bất cần khinh khỉnh, tưng tửng, dao to búa lớn…nhưng đầy tình cảm. Biết tin anh mắc chứng bệnh nan y đang ở giai đoạn cuối, tôi liên lạc, anh oang oang: “chuyện đâu còn có đó, lo gì cho mệt.”  

Cũng chỉ mới đây 1 tháng, anh mail cho tôi:

“Kính ông

Tôi vẫn đang đánh nhau với bệnh nhưng xem ra tình hình không đến nỗi bi thảm

Ông vào Người Việt kiếm mục sổ tay và tên Vũ Ánh có viết một bài. Đọc thì ông sẽ rõ hơn. Mong vui khỏe cả nhà

Thân

Thiepmai”

Đọc xong bài viết Cuộc Chiến Vẫn Chưa Ngã Ngũ, tôi bớt lo và tin như tác giả….

“Cuộc chiến giữa Lê Thiệp và bệnh ung thư là một cuộc chiến vẫn còn chưa ngã ngũ như bao nhiêu cuộc chiến tương tự. Nhưng sẽ có lúc nó phải ngã ngũ và tôi tin rằng phần thắng sẽ về bạn tôi.“

Nhưng sáng nay (6/7/2013) vừa thúc dậy, nhận mail từ người cháu Lê Thiệp:

“Chú ơi,

Cậu đã vừa đi rồi Chú à … gan suy sụp hoàn toàn nên tim ngừng hoạt động …  không đau đớn gì nhiều, còn tỉnh táo cho đến ngày cuối …”

Tôi giật bắn cả người, dù biết trước sau gì cũng sẽ đến. Tự nhiên tất cả những suy nghĩ thường ngày vớ vẩn của đời thường đã mau lẹ chuồn ra khỏi óc khiến đầu óc tôi chỉ nhớ mỗi đến anh. Tôi nhớ anh có tiếng cười sang sảng luôn luôn đi trước câu chửi thề chắc nịch. Mỗi lúc gặp nhau qua điện thoại, anh thường hỏi tôi sống thế nào, tôi hỏi lại anh, anh than thở rồi tôi cũng thở than, cuối cùng là: “Mẹ, dù chưa ra ngô ra khoai gì sất nhưng có cái đéo gì đâu mà ông phải lo, bữa nào sang đây chơi!” Và rồi mới bắt đầu vào chuyện chính…

***

Tôi gặp anh lần đầu vào khoảng giữa năm 1978 tại trại tạm cư Misono (thị xã Fujisawa), một nơi tiếp nhận người tị nạn do cơ quan Công giáo Caritas bảo trợ, nhóm của anh, tạm gọi là nhóm Sun Swallow được tàu Đại Hàn tên Sun Swallow vớt đưa vào Nhật. Nói theo kiểu “sách vở” thì sự hiện diện của nhóm anh lúc đó đã nâng cuộc đấu tranh của người Việt tại Nhật lên một tầm vóc cao hơn: trực diện với kẻ thù. Thật vậy, cho đến lúc nhóm anh có mặt, hình thức đấu tranh ở Nhật lúc đó rất đơn giản, chỉ là họp báo, ra báo, cũng có biểu tình nhưng chỉ lai rai.

Dù bị Cao Ủy Tị Nạn LHQ, Caritas “khuyến cáo” không nên làm… “chính trị”, nhưng với quyết tâm sẵn có, cộng với những “dẫn lối đưa đường” của các anh em thân hữu, Người Việt Tự Do như anh Huỳnh Lương Thiện và một vài người khác … đang “nằm vùng” trong Cao Ủy, Caritas, chỉ một thời gian ngắn sau ngày nhập trại (khoảng 6/1978), Lê Thiệp đã cùng già trẻ lớn bé của nhóm Sun Swallow và nhóm của Phùng Tấn Hiệp ở Kamakura bên cạnh, mở cuộc bao vây bất thần vào sứ quán Việt cộng, mở đầu cho những buổi biểu dương tuyệt đẹp, như buổi “đón tiếp” thứ trưởng Phan Hiền, 3 ngày rượt đuổi Nguyễn Duy Trinh, ngoại trưởng Việt cộng nhân các chuyến đi xin viện
trợ.

2/9/1978 Chít khăn tang đòi tự do cho dân Việt.

Cuộc “đột kích” trước sứ quán Việt cộng tháng 7/1978

Đáng nhớ nhất là vào ngày 2/9/1978, lúc sứ quán việt cộng mở tiệc ăn mừng ngày độc lập thì ngay từ dưới chân dốc đường dẫn vào sứ quán đã xuất hiện một đoàn người già trẻ lớn bé dẫn đầu bởi Lê Thiệp, Ngô Chí Dũng, Phùng Tấn Hiệp, từng bước một, với vành khăn tang trắng lừng lững tiến đến trước cửa sứ quán vì “ngày 2/9 chỉ là ngày độc lập với tình thương, với nhân quyền”. Sáng kiến “đeo khăn tang” nhân ngày “lễ lớn của dân tộc” là của ban tham mưu gồm Ngô Chí Dũng, Lê Thiệp và cha người Mỹ Martin của cơ quan Caritas, người giúp phe ta chỉnh lại khẩu hiệu tiếng Anh. Buổi tiếp tân rộng lớn 1 tuần sau đó, đã đánh động bản tính e dè của dân Nhật. Các hội đoàn, báo chí …. liên tiếp muốn thu tin, làm phóng sự về người tị nạn. Anh cười
hả hả: Ông thấy tụi tôi ngon lành không?

Lê Thiệp (trái) và thầy Thích Trí Hiền trước sứ quán Việt cộng

Cũng vào thời gian đó, anh thường có mặt với anh em Người Việt Tự Do trong các buổi hội thảo về nhân quyền, buổi báo cáo về tình hình Việt Nam tại các khuôn viên trường đại học, tại các nghiệp đoàn lao động. Rồi cứ đến chiều thứ bảy, tại trại Misono, rất đều đặn trong suốt một vài tháng những cuộc tâm tình đã được mở ra giữa người mới tới như Lê Thiệp, Trịnh Ngọc Bằng. Nguyễn Hữu Hiệu v.v. và người ở đã lâu như tôi, Ngô Chí Dũng, giáo sư Tonooka… để cùng nhau bàn luận tìm cách làm một điều gì đó cho quê hương đất nước.

Tính anh vẫn thế!

Quen và biết nhau khá lâu, từ hơn 35 năm trước nhưng mãi đến ngày anh mất, tôi mới biết tuổi thật của anh: 69 tuổi, anh hơn tôi cả 9 tuổi, nhưng khi nói chuyện với ai đó về tôi anh thường “thổi” tôi lên. Có lần tôi nhớ Nguyễn Khanh, trưởng ban việt ngữ đài RFA có chuyện gì đó, lần đầu tiên khi liên lạc với tôi, cứ mở miệng ra là dạ vâng ngọt sớt…. rất ư là trịnh trọng, tôi e dè:

– Ông Khanh ơi, tôi và ông cùng một thời mà, ông nói vậy tôi tổn thọ chết.

– Không, anh là bạn Lê Thiệp, đàn anh của em, cách xa em mấy lứa, phải kính trọng anh chứ!

Tôi ngại quá cứ phải đẩy ra. Sau đó, gặp anh, tôi hỏi:

– Anh nói gì mà ông Khanh lại “lễ phép” với tôi quá vậy?

Anh cười xòa:

– Có nói gì đâu, sợ thần thì phải nể cây đa chứ!

Tính anh vẫn thế!

Đầu năm 1979, anh sang Mỹ định cư, tụi tôi vẫn giữ liên lạc với anh với mức độ… nhát gừng. Có lần, bất ngờ anh thư cho tôi, chỉ vài hàng trên 2, 3 mảnh giấy thuốc lá ghép lại, đại khái: “Ngày đó… ngày đó sẽ có bạn tôi sang (ông này người Mỹ), cậu Thiệp có nói: cứ liên lạc với Khuê, với Ngô Chí Dũng là sẽ có chỗ ăn chỗ ở. Cậu Thiệp đã lỡ phét lác rồi, các ông cố giúp tôi đừng để tôi mất mặt nhà binh nhé!”

Thế là tôi và anh Dũng phải tất bật lo toan cho người bạn quí, và cũng nhờ người bạn này, sau này đã giúp chúng tôi rất nhiều trong những chuyến Mỹ du.

Tính anh vẫn thế!

Anh nguyên là ký giả cột trụ của nhật báo Chính Luận, Sóng Thần, của làng báo Việt Nam, nhưng tôi chỉ thực sự biết “thực lực” của anh khi gặp anh 1 tháng sau. Hôm đó (đã lâu tôi quên ngày tháng), tôi nhớ rất rõ lúc mọi người của nhóm Sun Swallow và nhóm Kamakura (nhóm Phùng Tấn Hiệp) được Nghiệp Đoàn Lao Động Đồng Minh ưu ái tổ chức cho đi thăm viếng Tháp Tokyo và lúc đến chân tháp chuẩn bị lên trên, anh khều tôi ra nói nhỏ:

– Ông đã lên trên đó bao giờ chưa?

Tôi trả lời:

– Chưa!

Anh tiếp:

– Lên làm mẹ gì, ông ở đây lâu thì thế nào chả có dịp, tôi chưa đi nhưng cũng chả ham, vô đây nói chuyện vui hơn.

Rồi anh rủ tôi vào một quán nhậu dưới chân tháp nhấp vài ly vừa đủ để đỏ mặt. Lúc đó, chỉ còn 1 hay 2 ngày nữa là ngày ra báo Người Việt Tự Do, tôi vắn dài:

– Báo còn thiếu mấy bài…

Anh gạt ngay:

– Uống đi cái đã, sẽ có ngay cho ông mà. Yên chí đi!

Tối hôm đó, anh trốn trại đến ngủ nhà tôi nhậu tiếp, tôi cũng chẳng mong gì bài và vở từ anh nữa, vì sáng hôm sau nghe nói anh phải về trại sớm để lãnh tiền. Trong hơi men, tôi làm một giấc, gần tới sáng mở mắt ra thấy anh cười cười:

– Thôi, tôi dzọt, bài tặng ông tôi để đây.

Thì ra anh đã thức trước tôi khoảng 3 hay 4 tiếng để trám vào những bài tôi cần, đầy đủ cả: nào là tin Việt Nam, tin sinh hoạt và truyện ngắn “Cá hũm hĩm”, rất độc đáo mà tôi còn giữ đến bây giờ. 

Tính anh vẫn thế!

Tôi gặp anh 2 lần ở Mỹ, lần đầu vào năm 1980, lần sau vào năm 1993.

Lần đầu anh ở Connecticut, lúc đó anh như cái mền rách, việc cũng không và tiền cũng trắng. Anh và tôi rong ruổi từ Connecticut đến DC bằng cái xe cũ rích. Anh đưa tôi ghé nhiều nơi Philadelphia, Pittsburgh, Virginia, MaryLand…, chỗ nào anh cũng được nhóm bạn bè rủ rê làm báo, và chỗ nào anh cũng hứa vung hứa vít:

– Ông làm báo à? OK Tôi sẽ giúp ông mục này mục nọ.

Rất ngạc nhiên, tôi hỏi:

– Sao chỗ nào anh cũng hứa mà anh có làm không?

Anh cười:

– Hứa là hứa vậy thôi, chứ tụi nó dư biết là tôi hứa cuội. Nhưng nếu khi cần tôi sẽ cầm bút nghiêm chỉnh!

Và anh nghiêm chỉnh thật. Từ chiến khu, Ngô Chí Dũng sang Hoa Kỳ liên lạc và đề nghị anh về Cali phụ giúp tờ Kháng Chiến. Anh không ngần ngại về ngay, và dạo đó (1982-1984), tờ Kháng Chiến rất khởi sắc vì qui tụ khá nhiều tay bút chuyên nghiệp của làng báo Việt Nam dạo trước.

Tính anh vẫn thế!

Vì một trục trặc gì đó, anh trở lại DC mở tiệm phở, lúc đầu thì “khổ như con chó” (lời của anh), nhưng sau đó từ từ anh phất, lần thứ 2 vào tháng 7 năm 1993, qua anh tôi gặp được nhiều người thuộc loại đàn anh mình như họa sĩ Ngọc Dũng, Hà Thế Ruyệt, Hoàng Xuân Trường, Đinh Hùng Cường, Ngô Vương Toại v.v…, và nơi nào tôi cũng được đối xử rất nồng hậu vì anh ân cần giới thiệu…. “Đây là bạn tôi!”. Với ai khác, tôi không biết, nhưng đối với tôi anh rất chân tình.

Tính anh vẫn thế!

Khoảng năm 2002, lúc còn phụ trách Nguyệt San Hiệp Hội (tờ báo của người Việt tại Nhật) tôi nhận từ anh cả chục bài viết từ nhiều tác giả. Anh viết: “Tôi gửi ông một số bài, thích bài nào ông đăng bài đó, thuận mua vừa bán, xin tùy hỉ mở lòng… tùy theo thịnh tình.”

Sau này tôi mới biết là anh đã chạy đôn chạy đáo để giúp ông anh cả Uyên Thao (chữ của anh) mở nhà sách Tiếng Quê Hương đúng với ước nguyện của anh cả tâm sự với Lê Thiệp

“Tao chỉ cần 300 độc giả là đủ. Cái quan trọng là phải có phương tiện cho anh em có chỗ tập trung, có chỗ trao đổi. Mày có tin rằng trước sau gì Cộng Sản cũng thua, và nếu tao với mày còn sống thì đem về Việt Nam được những gì?

Cộng sản bằng mọi giá muốn lịch sử phải được viết dưới lăng kính, dưới nhãn quan Lê-Nin-Nist.  Họ phải tìm đủ mọi cách xóa bỏ những thực tại của lịch sử, nếu không thì bóp méo mọi dữ kiện trái với quan điểm của họ.  Điều này rõ ràng không cần chứng minh gì nữa.  Vấn đề còn lại là của tao, của mày, của những anh em mình.” [1]

Tính anh vẫn thế!

Mới đây, năm ngoái, nhận thư từ anh Uyên Thao: “có người đặt tiền trước để Khuê mua sách cả năm, nhưng yêu cầu tôi không nói tên”. Tôi chỉ biết vậy, nhưng sau đó tôi biết “tác giả” món tiền chính là anh, như anh thố lộ rất nhẹ nhàng trong buổi tâm tình hồi tháng 3 năm nay nhân buổi ra mắt sách của Tiếng Quê Hương:

Đấy là chưa kể lâu lâu những đứa như tôi, như Hoàng Xuân Trường lại cầm lòng không đậu. [2]

Tính anh vẫn thế !

Anh có cái độc đáo mà tôi thấy ít người có, anh nghe chuyện từ người rồi anh viết lại, nói như anh là “luộc lại”. Anh vung bút múa may chữ nghĩa, nói lên những sự thật bằng ngòi bút độc đáo có một không hai. Có lần anh kể lại cuộc gặp gỡ với anh Nguyễn Văn Tuệ trong nhà thương, một trong những nhân vật còn sống sót qua chuyến vượt biển kinh hoàng chín chết một sống, lúc còn đang ngất ngư trông giống như xác chết trên giường bệnh, khi vừa được vớt, rồi bài viết 40 Ngày Trên Biển Chết ra đời, đăng trên nguyệt san Người Việt Tự Do tháng 7 năm 1981 đã làm nhiều người đọc rùng mình bật khóc.

Rồi Anh viết Chuyện Người Đỗ Lệnh Dũng qua lời kể của nhân vật chính trong truyện, anh ”luộc” thật tài tình, anh phối hợp, rút tỉa đầy đủ những kỹ xảo của ngòi bút mà tất cả đều dựa vào sự thật.

Tôi hỏi :

– Có thật như vậy không ?

Anh cười :

– Trí tưởng tượng con người thì có bến có bờ, không thật thì làm sao mà phóng bút từ trang này sang trang khác được ?!

Tính anh vẫn thế !

Cứ miên man thế này thì đến bao giờ mới chấm dứt ?! Đành phải kết luận. Hôm nay, trước khuôn mặt gầy gò của anh chụp hồi tháng 3, tôi thấy vẫn y như lần gặp gỡ đầu tiên 35 năm trước. Hy vọng nơi cõi ấy, anh sẽ không còn là « người đứng bên lề cuộc sống ở đây [3] và không còn mang tâm trạng Chân Ướt Chân Ráo [4] và anh ung dung tự tại Lững Thững Giữa Đời [5] rũ bỏ được tất cả những ưu tư phiền muộn.

Cũng hy vọng nơi cõi ấy, xin anh để mắt đến thằng em của anh, phù hộ cho thằng em anh sống sao cho xứng đáng.

Vĩnh biệt anh !

Vũ Đăng Khuê

Tháng 7/2013


[1] Trích trong bài nói chuyện của Lê Thiệp nhân ngày Tủ sách Tiếng Quê Hương ra mắt sách 24/3/2013.

[2] Như trên

[3] Trích trong “Chân Ướt Chân Ráo” – Lê Thiệp

[4] Tên tác phẩm của Lê Thiệp

[5] Tên tác phẩm của Lê Thiệp

THƯƠNG TIẾC NHÀ BÁO ANH THUẦN (Tháng 6-1993)

Tưởng niệm PHAN BÁ THUẦN HẬU

Chân dung Anh Thuần

Vào lúc 6 giờ 17 phút sáng ngày 29 tháng 6, nhà báo kỳ cựu Phan Bá Thuần Hậu, tức Anh Thuần, đã qua đời sau một thời gian chống chọi trên giường bệnh với căn bệnh ung thư bao tử hiểm nghèo tại bệnh viện Yokohama –Nhật Bản.

Báo giới mất đi một đồng nghiệp đầy tinh thần quốc gia, cộng đồng người Việt tại Nhật mất đi một chiến sĩ luôn có mặt trên những trận tuyến văn hóa chống chế độ độc tài Việt cộng, bạn bè từ nay sẽ vĩnh viễn không còn nghe Anh kể lại những câu chuyện thú vị trong cuộc đời cầm bút…

Anh Thuần là nhà báo quân đội cho tờ Tiền Tuyến trước đây; Anh đã từng là một trong những nhà báo đầu tiên nhảy vào An Lộc khi vùng chiến địa nơi này vừa được giải tỏa (được nhắc tới trong cuốn An Lộc Anh Dũng).

Sau năm 75, như bao sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa khác, anh bị bắt đi học tập; với quá trình phục vụ lâu dài cho Tổng cục chiến tranh chính trị, anh bị để ý khá kỹ trong những trại tù, bị bọn quản giáo tặng cho những đòn thù khá nặng, khiến một bên tai của anh trở nên yếu hẳn đi. Sau khi vượt thoát được ra ngoài, Anh Thuần đã nhanh chóng có mặt trong hàng ngũ cầm viết để nói lên những cái phi nhân, phi nghĩa của bọn cầm quyền Hà Nội.

Tới Nhật vào năm 1984, một kỷ niệm đáng nhớ về anh mà hầu hết những người tị nạn trong trại Oseto thường kể cho nhau nghe. Vào thời điểm này, rất còn hiếm người tị nạn muốn ở Nhật, ai cũng mong được định cư ở Mỹ, Úc, hoặc Canada. Mặc dù được điều kiện đi Mỹ, tuy nhiên khi vào phòng tiếp kiến phái đoàn Hoa Kỳ, câu đầu tiên anh nhờ người thông dịch nói dùm với họ là: “Tôi tới đây không phải xin đi Mỹ, mà là xin được ở Nhật để tranh đấu…”. Ngay từ trong trại, với những phương tiện khó khăn, anh đã ngồi viết cuốn “Thảm trạng Việt Nam”, đồng thời cộng tác tích cực với Phụ trang Kháng chiến Á Châu lúc đó.

Sau khi hòa nhập vào xã hội Nhật, nhà báo Anh Thuần đã phát hành một tờ báo có tên “Việt Nam Thời Báo”, đồng thời phụ trách bài vở cho tờ báo tôn giáo “Sen Trắng” của cộng đồng phật tử Kanagawa. Đặc điểm nơi báo của anh là sẵn sàng đập thẳng những tên tay sai của chế độ Việt cộng và ủng hộ nhiệt tình những tổ chức đấu tranh, nhất là những tổ chức đấu tranh tại Nhật Bản. Điều này khiến bọn tay sai nhiều lần đột nhập vào nhà anh để đập phá các máy móc in ấn. Mỗi lần gặp thiệt hại, anh lại nở một nụ cười méo mó: “Tụi nó sợ ngòi viết của tao nên tụi nó mới giở trò côn đồ như vậy…”; và rồi anh lại cặm cụi đi kiếm máy mới mua trả góp, miệt mài viết bài đánh tiếp. Gần như số lương khiêm tốn anh kiếm được, anh đều đổ vào cái nghề làm báo mà anh đã từng cho biết, Anh không thể nào buông nó ra được.

Giờ đây anh nhắm mắt, mang theo hoài bão ngàn đời xuống suối vàng. Anh mong một ngày về được làm báo tự do trên đất nước Việt Nam. Anh mong quê hương mình hết khổ… Anh đã hy sinh cả cuộc đời tị nạn không một thân nhân bên cạnh để góp phần thực hiện những ước vọng bao người. Những ngày lâm bệnh, mặc dù bạn bè chung quanh bắt ép anh vào nằm bệnh viện, anh vẫn còn muốn tiếp tục công việc, mọi người phải động viên: -Thôi! Vào nằm chữa bệnh đi cái đã để còn chuẩn bị về lật đổ đám Việt cộng nữa chứ… Than ôi! Trời không chiều lòng người, y học tân tiến không thể nào ngăn chận căn bệnh quái ác đã lan rộng khắp người Anh.

Anh ra đi vào giữa lúc Nhật Bản vào mùa mưa; mùa mưa thứ 10 anh có mặt trên xứ hoa Anh Đào. Những cơn mưa kéo dài, xối xả như thương khóc anh. Chúng tôi, những người có mặt bên anh lần cuối, cố nén những giọt lệ, cầu mong linh hồn Anh sớm siêu thoát, hoặc sẽ bay về lại trên quê hương; Quê hương mà anh đã nhiều lần nhắc tới, gói ghém tâm tư thương nhớ trong những câu thơ anh viết:

…Nhìn quanh trời nước mênh mông,

Nghĩ về cố quốc mà lòng chạnh đau!

Vui xuân đi giữa rừng đào,

Sao tâm tư cứ dạt dào tình quê.

Chúng tôi ngâm lại cho anh nghe lần cuối. Anh ra đi bình yên. Mọi người ở lại tin tưởng chắc chắn một điều, sẽ có hồn Anh về theo trên những ngọn sóng trào, mau chóng xóa tan đi những bất công thống khổ của người dân Việt.

Vĩnh biệt anh.

Huỳnh Vi Sơn

Tưởng niệm cụ CHÂU DIỄN HỒNG

TƯỞNG NHỚ

NHÀ THƠ VIỆT NỮ HOAN CHÂU

5 giờ 12 chiều giờ Cali ngày 8 tháng 7/2018, tôi được tin cụ bà Trần Quốc Hương tức nhà thơ Châu Diễn Hồng hay còn gọi Việt Nữ Hoan Châu đã ra đi, hưởng thọ 98 tuổi.

Tôi được nghe kể từ chị Hiền (phu nhân anh Lê Hiển) con dâu của cụ: sáng hôm đó, em vẫn nói chuyện với mẹ em, cụ tỉnh táo nhưng vẫn căn dặn: khi nào có dịp thì các con các cháu sang thăm mẹ, có lẽ lần này là lần cuối, nhưng vài tiếng sau thì nghe tin cụ đã ra đi.

Lẽ dĩ nhiên theo tâm lý, là sẽ có nhiều điều buồn với người mất mát, nhưng về mặt khác tôi cảm thấy hơi vui và mừng vì cụ ra đi thanh thản, xung quanh cụ đã hiện diện những người mà cụ thân yêu, cụ đã dặn dò đầy đủ những gì mà cụ muốn truyền đạt cho hậu thế tiếp nối, cụ đã mãn nguyện. Những ngày cuối đời, tuy nằm tĩnh dưỡng ở nhà, cụ vẫn tiếp tục sáng tác, mà hầu hết thơ cụ đều gói trọn tâm tình của mình về quê hương đất nước, xứng danh là hậu duệ, con cháu của một chí sĩ Việt Nam là cụ Phan Bội Châu.

Khi bố tôi còn sống, (mất năm 1995) cụ thường hay tâm sự với tôi: Tôi xem cụ nhà như anh, hôm bố tôi đi cụ buồn và khóc vì mất đi một ông anh cùng chí hướng.  Trước ngày mẹ tôi mất vài ngày (tháng 7/năm 2001), cụ đến nhà tôi thăm mẹ và còn hẹn mẹ tôi là chị em mình sẽ còn gặp nhau nữa mà.

Trong hai đám tang của bố mẹ tôi cụ đều làm thơ tiễn biệt và dặn là nhớ bỏ vào linh cữu bố mẹ tôi.

Có lẽ trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến lúc cụ sang Mỹ năm 2001, không tháng nào là không có những vần thơ của cụ trong Nguyệt San Hiệp Hội, cụ khuyến khích anh em tôi bằng những câu đối, bài thơ… với tất cả nhiệt huyết của cụ. Năm Nguyệt San Hiệp Hội kỷ niệm tròn 3 tuổi, cũ đã tặng tờ báo:

Huynh, đệ liên minh

(Kính tặng quí ông; Chủ bút, Thư ký tòa soạn cùng toàn Ban Biên Tập)

Hiệp Hội Nguyệt San năm thứ ba
Sơ khai “Kháng Chiến” vẫn tương hòa
Sánh vai tô điểm tình dân tộc,
Góp mặt trau dồi nghĩa quốc gia
Huynh, đệ liên minh đồng lý tưởng
Nghĩa nhân, xây dựng đẹp sơn hà
Toàn ban biên tập đều gom sức
Kỷ niệm chu niên, trổ gấm hoa

Kỷ niệm chu niên, trổ gấm hoa
Ân tình “Kháng Chiến” rất xâu xa
Bán khai thuở trước đà tương trợ,
Tự lực ngày nay vẫn thiết tha
Con cháu Tiên-Rồng chung sức mạnh
Giống nòi Hồng Lạc đã tham gia
Giang sơn gấm vóc, ngày hưng thịnh
Đoàn kết toàn dân, dựng nước nhà.

Mỗi lần có người ra đi là thế nào cụ cũng có những lời tiễn đưa của cụ, chẳng hạn như nhà văn Y Yên.

“Vô cùng thương tiếc văn hữu Lê Quốc bút hiệu: Vi An và Y Yên đã đột ngột từ trần. Cầu nguyện hương linh được “Siêu-Sinh Tịnh-Độ”.

1/ Hữu tài bạc phận

Cộng đồng đã mất một thanh niên!
Cái chết đau thương của Y Yên!
Thân hữu Vi-An, sầu thế sự!
Văn nhân Lê-Quốc tủi triền miên!
“Chuyện phiếm đầu Xuân” vẫn chửa quên!
Bấy hạnh bởi đâu gây thảm cảnh!
Hữu tài, bạc phận, hận vô biên!

2/ Chán đời đen bạc

Chán đời đen bạc, hỡi Vi-An;
Sao bỏ ra đi quá vội vàng?
Để lại tiếc thương, toàn Việt-tộc?
Mưa sầu gió thảm đất Phù Tang!

3/ Thoát vòng tục lụy

Vi-An vội vã lánh trần hoàn,
“Cực lực phiêu diêu” biệt thế gian.
Cái cõi phù sinh, là cõi tạm,
Thoát vòng tục lụy, hết tân toan

Cứ Xuân về, Tết đến là thế nào cụ cũng có những câu đối:

Phù Tang viễn xứ mấy mùa Xuân, Tổ quốc xa lìa càng uất hận

Nhật Bản tha phương hăm mấy Tết, Gia đình ly tán vẫn căm hờn

Cụ làm thơ kỹ lắm, kỹ từ dấu phảy, chữ nên viết hoa hay không viết hoa, vì theo cụ đúng như thế mới diễn tả hết tâm tình của cụ. Sang đến Mỹ rồi cụ vẫn lo và nhờ anh Hào con trai của cụ xác nhận với tôi từng ly từng tý.

Lúc còn ở Nhật, cụ xông xáo lắm, ngoài công việc làm thơ, cụ còn có mặt trong cả các sinh hoạt cộng đồng, đấu tranh. Có lúc cụ đã là Hội Trưởng Danh Dự của Hội Thân Hữu Tương Trợ Kanagawa, một hội đoàn đã có nhiều đóng góp cho những đồng bào mới đến.


Sang Mỹ định cư, đúng ra cụ phải ở tuổi nghỉ hưu dưỡng già, nhưng mộng của cụ không dừng ở đó, cụ vẫn làm việc không ngừng nghỉ, tiếp tục những chuyện cần phải làm và phát hành thêm mấy tập thơ nữa, cùng tổ chức những buổi hội luận về thơ với những người cùng tuổi.

Cụ ơi!

Hôm nay cụ đã về cõi Phật, có một điều chắc chắn là chúng con sẽ không bao giờ quên lời dặn dò của cụ. Đất nước mình đã thấy được ánh sáng cuối đường hầm và mong cụ ở trên đó cầu nguyện cho tụi con dưới này nhé.

Vô cùng thương quí cụ.

Vũ Đăng Khuê

Tokyo ngày 11/7/2018

TƯỞNG NHỚ Y YÊN

Y Yên – và di bút

Đầu tháng 5, cứ như thường lệ thì loạt bài của Y Yên sẽ được gửi đến bằng đường bưu điện, sang đến giữa tháng vẫn không thấy, đang dự định viết hagaki để đốc thúc thì ngày 21/5, một nhân viên của sở cảnh sát quận Tatetabayashi (tỉnh Gunma) đã điện thoại đến văn phòng Hiệp Hội hỏi thăm tin tức về một người Việt Nam tên Lê Quốc đã tự tử tại nhà riêng.

Lê Quốc chính là “Y Yên” hoặc “Vi An” hoặc “Lượm”, một cây bút rất quen thuộc của cộng đồng người Việt tại Hoa kỳ, Canada và Nhật Bản đã qua đời tại Gunma, hưởng dương 40 tuổi. Đến Nhật khoảng năm 1982 với tư cách thuyền nhân, chỉ sau một thời gian ngắn là anh đã cộng tác ngay với tạp chí Đường Sống dưới tên Lê Cửu Bị. Những loạt bài dưới hình thức tin tức, đoản văn của anh chuyển đi từ Nhật đã được nhiều người mến mộ. Năm 1992, sau khi tạp chí Đường Sống đình bản vì số người tị nạn tại các trại Đông Nam Á giảm đi khiến chương trình trợ giúp của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc cho tờ Đường Sống bị đình chỉ, anh đã tiếp tục viết cho các báo khác tại hải ngoại như tờ Saigon Nhỏ, Đuốc Từ Bi tại Hoa Kỳ, nguyệt san Làng Văn tại Canada trong mục “Phù Tang Tạp Lục” dưới bút hiệu Vy An. Cũng vào thời điểm này, anh đã cho ra mắt tác phẩm đầu tay của mình là quyển “Phù Tang Tạp Lục”. Ngoài ra, anh còn là đặc phái viên cho các đài phát thanh chương trình Việt Ngữ tại Hoa Kỳ, Úc Châu, cộng tác viên của tờ Phụng Vụ Lời Chúa, Bản Tin Thân Hữu tại Nhật.

Bìa sách Phù Tang Tạp Lục

Từ tháng 9/1994, anh bắt đầu cộng tác thường xuyên với Nguyệt San Hiệp Hội. Bằng lối viết dí dỏm, nhanh cũng như cách dịch phóng khoáng, những truyện ngắn của anh như “Đèn Kéo Quân”, “Những quả nậm của Thanh Bình” … đã thu được nhiều sự chú ý của độc giả. Sự chú ý đã biến thành lôi cuốn khiến anh … mang nợ. Có lẽ thời gian này là thời gian bận bịu và vui nhất của anh vì: ngoài việc trả nợ áo cơm, tôi còn phải trả nợ cho độc giả nữa. Thiếu nợ thì chả ai khoái cả, nhưng thiếu nợ bài để độc giả đòi thì đâu phải ai cũng được.

Anh có lối nói chuyện mang tính cách áp đảo, nói nhiều hơn người đối diện và luôn luôn chấm dứt trước khi người đối diện kịp tỏ bày ý kiến, điều này đã khiến nhiều người khó chịu, nhưng nếu có thời gian quan sát, tiếp xúc và nghe anh tâm sự, một sự thông cảm chắc chắn sẽ đến, vì những điều anh muốn hoặc sắp làm đều không phải cho cá nhân anh, mà không ít thì nhiều là những đóng góp cho tập thể, cho cộng đồng. Trái lại với những bay bướm, dí dỏm trong thơ văn, anh thật dứt khoát: đối với việt cộng không có chuyện nhân nhượng và giao lưu. Cũng vì thế mà văn phong sau 17 năm dù có khi ẻo lả, dí dỏm nhưng rất quyết liệt với một tập đoàn đã đẩy gia đình, bạn bè, đồng bào ta xuống vực thẳm.

Vào khoảng 1 năm trước, được sự khuyến khích của bạn bè, anh thật sự “bốc” khi dự định thực hiện một loạt chương trình như: làm băng đọc truyện, dịch lời bài hát từ Nhật sang Việt, thu thập những bài viết của “phe ta” tại Nhật làm thành tuyển tập… trước là để… mua vui sau là góp phần làm cho sinh hoạt của cộng đồng thêm tươi mát.

Nhưng … tất cả mọi việc đã được gác lại vì “một số những văn hữu của chúng ta bên Hồng Kông đang gặp nguy hiểm, sắp bị trả về”. Anh quyết định thành lập Trung Tâm Văn Bút Á Châu, liên kết với các Trung Tâm Văn Bút khác trên thế giới để đánh “cộng” trên mặt văn hóa cũng như để cứu những văn hữu tị nạn tại Hồng Kông.
Ngày 9 tháng 12 năm 1995, Văn Bút Á Châu do anh làm chủ tịch được thành lập và làm đơn xin gia nhập Văn Bút Hải Ngoại có trụ sở đặt tại Hoa Kỳ. Từ đó anh liên lạc với các Trung Tâm Văn Bút khác trên thế giới để hoạch định chương trình làm việc, và cũng chính từ những sự tìm hiểu sau đó đã làm anh thận trọng hơn vì “tôi đã hiểu ra nhiều chuyện” và anh quyết định “Trung Tâm Văn Bút Á Châu tạm thời rút đơn xin gia nhập Văn Bút Hải Ngoại”. Cũng chính từ việc này, cuộc đời anh đã bị phiền nhiễu, anh đã bị một số báo chí ở hải ngoại của các phe liên hệ “đánh” liên tiếp, họ đánh anh trên báo chí, họ nhờ người của họ tại Nhật đánh tiếp bằng cách gửi thư vu khống anh là “khùng điên”, “mắc bệnh tâm thần”, điện thoại của anh reo vang suốt đêm nhưng bắc lên thì lại không có ai… Có lần anh than thở: “Tôi phải làm sao đây, việc trước tiên để tránh họa là tôi phải đành giải tán Trung Tâm Văn Bút Á châu, sẽ không sử dụng điện thoại nữa, có gì liên lạc với tôi bằng thư”. Hơn nữa, cũng chính vào thời điểm này (khoảng tháng 2/1996) anh đã bỏ việc vì bất mãn với công ty, nơi anh đang làm việc. Những chuyện không may dồn dập ập lên đầu nhưng chẳng có ai biết để chia sẻ cả vì khi có dịp liên lạc với bạn bè anh lại “nói ngược”: công việc tôi ổn định rồi, được chủ hãng cho lên kakaricho coi cả một khâu”. Có lần, Nguyệt San Hiệp Hội liên lạc với anh để hoàn trả số tiền bán 20 quyển “Phù Tang Tạp Lục”, nhưng anh vẫn bô bô: “Tôi biết quá mà, mấy ông làm gì có tiền, thôi giữ đó đi để làm chuyện khác”. Chẳng những thế, dù là người đóng góp thường xuyên cho tờ báo đã không tiền nhuận bút mà anh lại còn trả lệ phí mua báo như một độc giả dài hạn.

Theo lời kể từ những người bạn của anh ở gần đó thì suốt cả năm ngoái, anh đã sống hoàn toàn trong cô đơn, khủng hoảng cả về 2 mặt tài chánh lẫn tinh thần. Có khi cả tháng trời, buổi tối nhà anh không bao giờ bật điện, đã có lúc người hàng xóm báo cảnh sát, nhưng lúc cảnh sát đến nhà thì anh vẫn bình thường, hỏi lý do tại sao buổi tối không thắp đèn thì anh cho biết là ngay cả tiền ăn cũng không có thì lấy tiền đâu trả tiền điện. Bạn bè gần đó có tặng anh một số tiền và đề nghị anh chuyển vào trại tị nạn Akatsuki Mura, hoặc xin nhà chung cư, anh chỉ ầm ừ cho qua chuyện.

Lần này cũng thế, đã gần cả tháng nhà không thắp đèn, thùng thư thì đầy ắp, thấy kỳ lạ người xung quanh báo cho cảnh sát đến nhà thì khám phá anh tự kết liễu cuộc đời, để lại mảnh giấy có ghi hàng chữ: “Tôi bế tắc cuộc đời nên đã tìm cách chấm dứt Nợ Đời! Xin báo dùm cho số 110. Rất cảm ơn”. Theo sự khám nghiệm của bác sĩ, có lẽ anh mất vào khoảng những ngày cuối tháng tư hoặc đầu tháng năm.

Lễ hỏa táng đã được cử hành trong đơn giản, chỉ vài người bạn ở trại tị nạn cũ và một ít bà con ở quanh vùng tại nhà thờ Tatebayashi ngày 24/5.

Thay lời cuối, Nguyệt San Hiệp Hội xin gửi đến anh lời cảm ơn chân thành nhất vì những đóng góp vô vu lợi của anh cho NSHH nói riêng và cho cộng đồng người Việt tại Nhật nói chung.

Vĩnh biệt anh, một văn tài được cộng đồng người Việt mọi nơi yêu mến. Cầu nguyện hương hồn anh được yên nghỉ thảnh thơi nơi chín suối.

Tháng 6/1997

Vũ Quang

Tưởng niệm NGÔ CHÍ DŨNG

VỀ MỘT NGƯỜI BẠN ĐÃ HY SINH

Câu hát quen thuộc văng vẳng vang lên:

Vì hòa bình là ước mơ chung
Phải kiên gan chiến đấu không ngừng
Để lịch sử giở qua trang mới
Trang bắt đầu cho cuộc phục hưng
[1]

đã đưa tôi trở về những ngày xưa cũ. Hình ảnh của anh cũng chợt hiện ra nơi đây như để chia xẻ với tôi. Thân xác thì ở Nhật Bản nhưng tâm hồn thì dành trọn cho những người đã

lên đường chiến đấu và đã hy sinh, đặc biệt cho người bạn có tên: Ngô Chí Dũng.

***

Tôi đã gặp

Vào cái tuổi của thời còn non trẻ, tuổi đầy ắp những mơ ước đầy háo thắng, tôi gặp anh qua những sinh hoạt của sinh viên tại Nhật.

Anh hơn tôi một tuổi, học trên tôi một lớp, anh có khuôn mặt trắng hồng, dáng vẻ của một cậu công tử xuất thân từ một gia đình sung túc và nề nếp. Khoảng 1972, anh là một thành viên của nhóm thực hiện tờ “Tin Việt Nam”, tờ báo duy nhất của nhóm sinh viên quốc gia thời đó. Sau đó, anh là Trưởng Ban Báo Chí của Hội Sinh Viên Việt Nam tại Nhật Bản. Tôi là trưởng ban văn nghệ, một thành viên của Hội nhưng sau anh một nhiệm kỳ nên sự giao tiếp với anh chỉ ở mức độ chào hỏi, xã giao bình thường. Với những lần tiếp xúc ít ỏi thì dưới mắt tôi: anh là một công tử bột chăm chỉ thích chuyện chính trị. Những gì tôi biết về anh chỉ có thế. Sự giao tình với anh cũng chỉ ở mức bình thường nếu không có biến cố 30/4/75.

Sau cuộc đổi đời đau đớn, tập thể sinh viên du học tại Nhật có khoảng trên dưới 800 người, ngoại trừ một số nhỏ thuộc thành phần thiên tả là tỏ vẻ vui mừng, số còn lại mặc dầu có tinh thần quốc gia không chấp nhận cộng sản nhưng tất cả đều rơi vào tâm trạng hoang mang, chán nản vì không còn nơi nương tựa. Hơn nữa, nhìn về quá khứ, Nhật Bản vốn là nước không có những chính sách tiếp nhận người lưu vong một cách mặn mà nên hầu như ai cũng tính chuyện phải tìm một chỗ để an tâm sống cuộc đời còn lại. Muốn như thế thì cũng phải có một tư thế, có nghĩa là phải có tổ chức, ủy ban đại diện thì những nguyện vọng, yêu sách mới may ra có kết quả. Cái khó là ai cũng mang tâm trạng bất an, lo sợ, nên chẳng có mấy ai dám nghĩ đến chuyện dấn thân “ăn cơm nhà vác ngà voi” đầy bất trắc như vậy. Đúng lúc đó, anh xuất hiện. Tôi còn nhớ mãi câu nói của anh trong một buổi họp tại cư xá sinh viên vào những ngày giữa tháng 5/1975: “Tôi xin là người trách nhiệm đại diện anh em nếu mọi người đồng ý”. Mọi người vỗ tay, anh nói tiếp: “Thế thì xin tất cả im lặng để Ủy Ban làm việc”. Hội trường với mấy trăm con người đang xì xào bỗng im phăng phắc. Tổ chức có tên “Ủy Ban Tranh Đấu Cho Tự Do người Việt tại Nhật Bản” mà anh là người “đứng mũi chịu sào” đã ra đời vào những tháng ngày cực kỳ khó khăn đó.

Đầu tiên thì hoạt động của Ủy Ban này chỉ có mục đích là đi tìm những quốc gia hay những nơi có qui chế tỵ nạn cởi mở tiếp nhận số sinh viên nào không chấp nhận chính quyền việt cộng. Vài tháng sau, mục đích cuộc đấu tranh cho người Việt tại Nhật đã mở rộng hơn thành cuộc đấu tranh đòi hỏi tự do cho dân Việt. Ngày 1/11/1975 tại Tokyo, một tổ chức có tên là Nhóm Người Việt Lưu Vong mà tiền thân là “Ủy Ban Tranh Đấu Cho Tự Do người Việt tại Nhật Bản” đã ra một bản minh định lập trường, gồm những điểm chính như: chúng tôi vẫn tiếp tục theo đuổi cuộc chiến đấu chống cộng sản của cha anh chúng tôi dù đã thất bại – chúng tôi chiến đấu không vì mặc cảm, mà vì lòng tự trọng của những người trẻ muốn đóng góp sức lực của mình vào cuộc chiến đấu giành lại tự do – nhân bản – chúng tôi mong mỏi mọi người và thế giới ủng hộ chúng tôi. Sau đó thì nhóm người Việt lưu vong được đổi thành Tổ Chức Tranh Đấu Cho Tự Do của Người Việt và cuối cùng là Tổ Chức Người Việt Tự Do. Tôi tâm phục anh từ đó.

Những kỷ niệm khó quên

Khi đã “kết” nhau, tôi và anh đã có nhiều dịp trao đổi hơn về mọi mặt. Nói anh sinh ra để “làm chính trị” cũng không ngoa, vì bất cứ chuyện gì từ vui hay buồn khi nói chuyện với anh, cũng “bị” anh kéo về chuyện chính trị hay là chuyện Việt Nam. Xin kể một câu chuyện về anh mà tôi nghe được. Một hôm, tôi cùng anh và một số bạn đến thăm đồng bào tại một trại tị nạn để hỏi thăm về tình hình Việt Nam, nói chuyện được một lúc thì trời đổ mưa tầm tã, một cô trong nhóm “than thở”: “Thấy mưa nhớ Việt Nam quá anh Dũng ạ”, anh cười cười và đáp ngay: “Nói đến mưa mới nhớ đến chuyện ở bên Ý, kỳ rồi đảng cầm quyền đã mất ghế vì đã không có đối sách kịp thời khi mưa lớn khiến có vài người thiệt mạng” (đại khái tôi nhớ là như vậy). Mắt cô gái tròn xoe tỏ vẻ ngạc nhiên, có lẽ là vì cô tưởng câu trả lời của anh phải mang một ý nghĩ chia sẻ thông thường.

Nhớ có lần trong một buổi tối mùa đông ngồi đóng, gói báo Người Việt Tự Do để gửi đi, cạnh cái lò sưởi nhỏ, bên ngoài còn nghe rõ tiếng gió rít qua khe cửa, anh hỏi tôi: “Ông có thấy là mình kỳ cục khi làm những chuyện mà có người cho là chuyện dễ ợt không?” Tôi hỏi lại: “Ông muốn nói chuyện gì?”, “Chuyện mình đang làm nè, chuyện đóng báo gửi đi nè”. Câu chuyện bỏ lửng ở đó, nhưng sau đó tôi hiểu ý anh muốn nói: “Dễ thì dễ thật, nhưng mà có mấy ai dám bỏ tất cả để đi làm chuyện dễ ợt hay không”, vì ban chiều có một vài người bạn ghé nhà, thấy anh đang cắm cúi, cắt dán từng địa chỉ, có người phán một câu: Mấy chuyện này thì dễ ợt, ai làm chả được.

Những người học cùng năm với anh, sau khi ra trường đã chạy đôn chạy đáo tìm việc để ổn định cuộc sống, để giúp đỡ gia đình, toàn là những lý do chính đáng, nhưng anh lại đi ngược dòng, anh đã rất “tiêu cực” trong việc tìm cho mình một đời sống an định, anh chỉ làm những công việc parttime không bó buộc giờ giấc, vừa đủ trang trải cho một cuộc sống đơn giản nếu không nói là đạm bạc để dành thì giờ hoạt động. Anh không thụ động ngồi yên nhìn những ước mơ của mình trôi theo năm tháng, anh đã đi đây đi đó, kết hợp vận động để mưu tìm cho mình những điều mà lúc đó có thể chỉ là những ước mơ ngoài tầm tay: Mai này chúng ta cùng về Việt Nam.

Trong những lần công tác tại Hoa Kỳ, khi về lại Nhật, lúc nào anh cũng có quà cho tôi; khi thì khoanh giò lụa, lúc thì cái bánh chưng, lúc thì vài quả hột vịt lộn… và lần nào anh cũng nói: Định mang về cho ông nhiều hơn, nhưng sợ tụi phi trường nó lấy hết. Nhưng có món quà mà tôi thích nhất là những “bài nhận định”. Khi làm tờ Người Việt Tự Do, bài nhận định là bài khó nhất vì phải nói lên được quan niệm, nhận định của Tổ Chức về thời cuộc Việt Nam cũng như thế giới; thường thường thì đã được chia phiên (ngoại trừ tôi), nhưng nếu người đến phiên bận chuyện không viết được thì rất ư là kẹt. Nếu anh không bận công tác thì chuyện giải quyết dễ dàng, nhưng nếu anh bận công tác xa thì báo lại phải phát hành trễ vì phải chờ phải đợi. Tôi nhớ có vài lần, đúng vào lúc đang “bứt tai vò trán” thì thư của anh đến cùng bài nhận định kèm theo vài chữ: “Tôi gửi để phòng hờ nếu có kẹt bài”. Vì thế đối với tôi, đây là những món quà mà tôi thích nhất vì đã nhận được những gì mà mình muốn lại đúng ngay thời điểm.

Anh có lối nói chuyện giống người Mỹ, hay nhún vai, khi nhắc đến một tên nhân vật ngoại quốc anh thường thêm chữ “thằng” đằng trước, một lối nói không lấy gì làm thiện cảm đối với người Việt Nam nếu người nói chuyện không ở mức thân tình, điều này anh bị anh em “chỉnh” không ít, nhưng khi giao tiếp với người ngoại quốc như Nhật hay Mỹ thì anh lại được rất nhiều người quí mến. Có lần, một giáo sư người Nhật cho biết là sẽ giới thiệu cho Tổ Chức một nhân vật có thế giá, đầy quyền lực trong giới tài phiệt – chính trị Nhật. Hôm gặp gỡ, vị giáo sư rất trang trọng, đem theo bà vợ cũng là người Nhật mặc áo dài Việt Nam cho cuộc gặp thêm ý nghĩa. Khi hai bên giáp mặt, vị giáo sư ngạc nhiên khi thấy anh bước tới tươi cười bắt tay vui vẻ nói chuyện rất tự nhiên với nhân vật đó. Vị giáo sư thắc mắc hỏi, anh cười nói: ông này tôi gặp mấy lần rồi mà!

Thời đó, việc nhập cảnh Mỹ rất khó dù chỉ đi du lịch, nhưng chỉ cần anh viết một giấy giới thiệu ký tên anh dưới danh nghĩa Tổ Chức “Người Việt Tự Do” là được cấp visa ngay không cần phải chờ đợi. Hỏi anh thì anh nói: chuyện đó mà làm không được thì làm sao làm chuyện lớn. Nhỡ có nhu cầu đấu tranh phải kết hợp phải di chuyển mà không có những cái tối thiểu đó thì làm sao mà tranh mà đấu?

Những vận động không ngừng nghỉ của anh, của những anh em trong tổ chức khắp nơi đây đó, nhất là qua chuyến triển lãm hình ảnh tị nạn xuyên nước Mỹ vào năm 1979 đã đưa tới kết quả: vào một ngày của tháng 6/1981, anh báo tin là sẽ có một phái đoàn gồm đại diện 3 tổ chức: Lực Lượng Quân Dân Việt Nam, Tổ Chức Phục Hưng, Người Việt Tự Do sau chuyến công tác Đông Dương sẽ đến Nhật để bàn tính chuyện mở lối về quê mẹ, nâng cuộc đấu tranh lên một tầm vóc cao: trực diện với quân thù. Sau những phiên họp tại Nhật, vào tháng 12/1981, Tổ Chức NVTD đã chính thức giải thể để gia nhập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam do tướng Hoàng Cơ Minh lãnh đạo. Đường về Việt Nam đã được khai thông từ đó. Khi toán tiền phong từ khắp năm châu trở về đất mẹ vào năm 1981, anh đã có mặt cùng những người bạn khác mà tôi đã gặp. Việc anh trở về chẳng qua chỉ là một tiến trình suy luận hợp lý. Cái lý đó thật giản dị: anh đã tìm được môi trường thích hợp nhất để anh sống chết với quê hương. Trước khi lên đường, anh đưa tôi một túi xách và dặn dò đủ thứ: đây là hồ sơ những nhà báo hay liên lạc, kia là túi đựng những giấy tờ tùy thân cũ như: thẻ căn cước, sổ thông hành v.v… còn có một cái túi được gói nhiều lớp thật kỹ bên ngoài có ghi rõ: “những thứ không nên xem”, tôi tò mò nhưng không dám hỏi, và tôi cũng quên hẳn có cái túi như thế. Sau lúc vào khu chiến, anh có thư cho tôi và “tiết lộ”: đó là túi đựng những lá thư của gia đình mà không bao giờ anh trả lời và yêu cầu tôi giữ kỹ”.

Khi gặp lại anh trong một vài lần công tác tại hải ngoại, tôi có cảm tưởng anh như là một người khác, tinh anh, sáng suốt, nhanh nhẹn, sắc bén hơn khi trước. Tôi hỏi: ông có thấy ông thay đổi so với trước không? Anh trả lời ngay: “khác nhiều chứ, vào đó thì chỉ có một chuyện phải làm là: đặt hết tâm trí vào nỗ lực phải giải phóng Việt Nam càng sớm càng tốt cho dân mình bớt khổ thôi”.

Chưa hết, ngoài ra, anh rành rọt một cách quá chuyên nghiệp về những gì mà trước đây anh chưa bao giờ đụng tới, anh giải thích chuyện chuyên môn về cách làm đài phát thanh, cách edit, cách thu thanh, sao cho tiếng không ồn. Anh dặn khi đọc bài thì phải thế này, thế nọ. Những thư từ trao đổi giữa tôi và anh có khi biệt tăm có khi mấy tháng mới nhận được nhưng lúc nào cũng thòng thêm một câu nửa đùa nửa thật: “Ông nhớ làm cho đều đặn, tránh trường hợp có cũng được, không có cũng không sao như thời sinh viên đâu đấy nhé”.

Khoảng cuối năm 1992, tôi được thông báo là anh mất tích.

* * *

Nguyễn Thái Học, Tháng 12/1927, khi còn là sinh viên 27 tuổi đã là lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng can cường đứng lên chống giặc Pháp. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị lên đoạn đầu đài vào tháng 6 năm 1930 khi được 30 tuổi.

Phùng Tấn Hiệp, 22 tuổi (1977) cầm súng ở Đồng Bò, 25 tuổi (1980) vượt biên tìm đường cứu nước. 30 tuổi (1983) đã hy sinh trên bước đường khai mở lối về.

Ngô Chí Dũng, 24 tuổi (1975), lãnh đạo Tổ Chức Người Việt Tự Do, 30 tuổi (1981) về nước chiến đấu. Mất tích (1992).

Tôi, hãnh diện được đứng chung hàng ngũ với Phùng Tấn Hiệp, với Anh, những nối dài của tuổi trẻ dấn thân trong lịch sử cứu nước.  Hôm nay ngồi ghi lại những giòng tâm sự về anh, tôi nhớ anh vô cùng. Không biết thân xác anh bây giờ phiêu bạt nơi đâu, nhưng tôi vẫn tin rằng anh vẫn còn hiện diện đâu đây bên cạnh để hỗ trợ đồng bào anh, bè bạn anh trong trận chiến đấu cuối cùng này để mãi mãi chấm dứt khổ đau trên quê hương yêu dấu.[2]

Tạm biệt anh!

Nhật Bản, 2011

Trần Đức Huy


[1] Một đoạn của “Bài Ca Đại Việt” thơ Bắc Phong trong tập thơ Chính Ca, Huỳnh Vi Sơn phổ nhạc.

[2] Lời kêu gọi của Chủ Tịch Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam Hoàng Cơ Minh tuyên đọc tại chiến khu vào ngày công bố cương lĩnh chính trị 8 tháng 3 năm 1982.

Tưởng nhớ cụ VŨ VĂN CẦU

MỘT NÉN HƯƠNG…


(Kính gởi đến hương hồn cụ Vũ Văn Cầu, Hội trưởng đầu tiên của Hiệp Hội Người Việt Tại Nhật)

Chân dung cụ Vũ Văn Cầu

23/1/1995, trên chuyến xe từ miền Nam nước Nhật trở về Đông Kinh sau khi đi thăm khu vực Kobe, nơi mới bị một trận động đất kinh hoàng, tôi không khỏi mang những cảm giác hoang mang. Hình ảnh những cư dân bị thảm nạn, lúi húi bên đống gỗ vụn để cố tìm một vết tích nào đó của người thân bị chôn vùi, những ông bà cụ già lụi cụi lê từng bước chân nặng nề với gương mặt thất thần, các đồng bào Việt phải tạm trú trong những tấm lều mong manh rét mướt… Tất cả ám ảnh mãi tôi trong suốt cuộc hành trình dài đằng đẵng. Cảm xúc và hình ảnh đó, nếu là trước đây, tôi sẽ có một người để cùng chia sẻ…

Hơn 10 năm qua, bất cứ có một biến động gì về quốc tế, quốc gia, tôn giáo hay cộng đồng ở đây, tôi đều được Cụ tiếp chuyện, hoặc bằng điện thoại, hoặc bằng sự gặp gỡ tại nhà Cụ trong mỗi dịp tôi ghé Đông Kinh. Tuổi Cụ cách tôi gần hai thế hệ, nhưng chuyện trò với Cụ thật thỏai mái, không câu nệ, không kiểu cách và nếu vô tình có chút pha trò thì cũng được Cụ hưởng ứng ngay.

Đã từng là sinh viên trong khoảng thời gian rối ren nhất của đất nước: từ thực dân Pháp –Nhật –Việt Minh đến Quốc Gia; rồi trở thành công chức cao cấp của Bộ Thông Tin của cả hai thời kỳ cộng hòa, Cụ là một kho tài liệu sống cho đám trẻ chúng tôi học hỏi. Gần như không có vấn đề gì liên quan tới cuộc chiến trước đây mà Cụ không biết, và với một tinh thần quốc gia sắt đá, thẳng tắp như cây cổ thụ vươn cao, không giống như một số nhà chính trị mang tiếng “quốc gia” nhưng tư tưởng hay trở ngược tréo lui dưới những biện thuyết dông dài; đời sống, hành động của Cụ đã làm cho chúng tôi vừa quí mến vừa khâm phục; trờ thành một biểu tượng để chúng tôi mãi mãi noi gương theo.

Tin Cụ qua đời làm tôi mất đi một cái gì thật quí giá và thiêng liêng. Buổi tối trước khi lên đường gặp Cụ lần cuối, tôi cố gắng tìm lại những trang báo đã ghi những bước chân của Cụ, người Hội trưởng đầu tiên của cộng đồng người Việt trong những ngày đầu còn bỡ ngỡ trên xứ người. Kỷ niệm khó quên nhất, có lẽ chuyến đi của người chiến hữu đến tuổi “Thất thập cổ lai hi” thăm viếng đồng bào ở miền Nam nước Nhật này cách đây mười năm. Cuộc hành trình bằng xe hơi từ Đông Kinh, ghé Nagoya, Hikone, Osaka, Kobe, Himeji, rồi Hiroshima trở nên ngắn lại nhờ những câu chuyện của Cụ.Từ những ngày “kháng chiến” chống Pháp đến sự thay đổi hai nền cộng hòa, sau đó là miền Nam thất thủ với những ngày học tập dưới ngục tù cộng sản, những lần rời quê bỏ nước ra đi: -40 năm trước xa nơi chôn rau cắt rốn Sơn Tây, Bất Bạt… Ba Vì… với những vần thơ Quang Dũng… Rồi 20 năm sau phải chia ly Sài Gòn với những niềm nhớ không nguôi… Câu chuyện cứ mãi miên man trên con đường dài và đám chúng tôi thì cứ nghe hoài không chán.

Trong những năm qua, có biết bao nhiêu sự thay đổi; Liên Xô mất tên, Đông Âu tan rã… mỗi lần biến chuyển, niềm hy vọng của Cụ ở một ngày mai tươi sáng của dân tộc lại dâng cao, Cụ hớn hở liên lạc với tôi để trao đổi tình hình.

Giờ đây, tôi đứng bên cạnh Cụ đã ngủ yên, ước nguyện được trở về một đất nước tự do ôm ấp mười mấy năm qua, thành giấc mơ ngàn đời. Tôi biết Cụ đã cố gắng chống chọi với bệnh tật, không chỉ vì để kéo dài thêm cuộc sống trên trần thế này, nhưng để chờ một dấu hiệu; chỉ cần một sự thay đổi nào đó ở giải đất bên kia bờ Thái bình dương… là sẽ làm cho Cụ an lòng nhắm mắt. Đau lòng thay! Qui luật trời đất, đời người có hạn, Cụ đã không thể nào chờ đợi được hơn. Hồn nước anh linh theo Cụ qua lá cờ vàng phủ trước thân già, lá cờ mà suốt một đời Cụ cống hiến…

Cụ nằm đó, nhưng bên tai tôi vẫn nghe tiếng dép nhè nhẹ và lời chào quen thuộc: “Đồng bào Kansai của mình thế nào rồi cậu?” Tôi muốn nói với Cụ là tất cả đều bình yên, thiên tai vừa qua đã không cướp đi một ai, khu nhà thờ Kobe mà Cụ có dịp ghé qua ngày xưa tuy sụp đổ, nhưng tượng Chúa Giêsu do bà con mình dựng trong khuôn viên vẫn còn nguyên vẹn. Chợt tôi nhớ lại một điểm tâm đắc mà tôi với Cụ vẫn thường xuyên trao đổi, đó là hiện trạng tôn giáo của Việt Nam. Cụ là một người Công giáo thuần thành. Chính vì thế, mỗi lần viết một bài báo nào liên quan đến tôn giáo, chắc chắn tôi phải hỏi ý kiến nơi Cụ; người hầu như biết hết tất cả các vị lãnh đạo hàng giáo phẩm VN từ Bắc chí Nam, kể các linh mục quốc doanh và những đòn phép tôn giáo của nhà cầm quyền Hà Nội. Tôi không thể nào quên những nét lo âu, trằn trọc của Cụ mỗi lần nghe tin giáo hội bị bức bách bên nhà: “Không thể nào tin được bọn lãnh đạo cộng sản, trước sau gì chúng vẫn là một thứ vô thần”!

Từng lớp trưởng bối đấu tranh lần lượt vĩnh viễn ra đi, tất cả đều mang theo chỉ một hoài bão giống như nhau. Người ta thường nói: “Thác là thể phách hồn là tinh anh”; chúng tôi, lớp trẻ đang tiếp nối bước đường của Cụ tin rằng, sẽ có Anh hồn của Cụ mãi mãi đi theo để hỗ trợ sức mạnh tinh thần cho các con cháu có thêm niềm tin quang phục quê hương.

Huỳnh Việt