MỘT VÒNG TRUYỀN THÔNG BÁO CHÍ CỦA NGƯỜI VIỆT TẠI NHẬT

Một vài ấn phẩm

Lấy cái mốc từ sau ngày 30/4/75, ngày mà người Việt bị bứng khỏi rễ từ đất nước, số người Việt có mặt trên khắp thế giới khoảng hơn 4 triệu người. Họ có mặt dưới nhiều hình thức: thuyền nhân, đoàn tụ gia đình, du học, tu nghiệp sinh, di dân, lao động v.v… Nhật Bản cũng thế, từ khoảng hơn 700 sinh viên du học và kiều bào trước 1975, sau gần 50 năm, con số đã tăng gấp mấy chục lần (291.414 người) và sẽ tiếp tục tăng sau chính sách tiếp nhận của chính phủ Abe kể từ tháng 4/2019. Cùng lúc với cuộc sống ngày càng ổn định thì đời sống tinh thần cũng dần dần phong phú, trong đó văn học là một khía cạnh tiêu biểu. Xin mời quí độc giả theo dõi những ghi nhận dưới đây về sự tiến triển của mặt tạm gọi là văn học qua những trang sách giấy trong quá trình 50 năm tại Nhật, khởi đầu chỉ là bản tin vài trang dần dần trở thành đặc san, nguyệt san, tác phẩm… Những ghi nhận này sẽ không theo thứ tự thời gian nên xin xem đây là tài liệu tham khảo… rất bình dân vì nhớ gì ghi đó.


Ấn phẩm:

  1. Bản tin của Ủy Ban Tranh Đấu cho Người Việt tại Nhật
  2. Nguyệt san Người Việt Tự Do
  3. Đặc tập Boat People (Nhật-Anh-Pháp-Việt)
  4. Refugees (The Cry Of The Indochinese)
  5. Phụ Trang Kháng Chiến Á Châu (Báo Kháng Chiến trụ sở Hoa Kỳ)
  6. Phụ Trang Á Châu Nguyệt san, Bán Nguyệt san Canh Tân
  7. Hiệp Hội (Hiệp Hội Người Việt Tại Nhật)
  8. Chúng tôi muốn sống (Vietnamese people’s fight Fpr Survival Anh-Việt)
  9. Việt Điểu Sào Nam Chi (越鳥巣南枝)
  10. Khuôn mặt Việt Nam (ベトナムの顔)
  11. Bản tin của Phân Hội Chuyên Gia tại Nhật
  12. Đặc San Đẳng Hướng (Phân Hội Chuyên Gia Việt Nam Tại Nhật)
  13. Sen Trắng (Cộng đồng Phật Tử Việt Nam tại Nhật)
  14. Bản tin Thân Hữu (Hội Thân Hữu Tương Trợ)
  15. Bản Tin Phù Sa
  16. Bản tin NGO VIETNAM in Kobe
  17. Bản Tin Viễn Thông (Hội Phật Giáo Việt Nam tại Nhật Bản)
  18. Nguyệt san Việt Nam Thời Báo (ký giả Anh Thuần)
  19. Nguyệt San Mekong (ông Đỗ Thông Minh)
  20. Phụng Vụ Lời Chúa (Giáo Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Nhật)
  21. Đặc san Song Nguyền (Song Nguyền Nhật Bản)
  22. Ký Ức Vụn Vặt & Chuyện Xứ Phù Tang (Huy Nguyễn-Vũ Đăng Khuê chỉ phổ biến trong vòng bạn bè, thân hữu)
  23. Cô Hai Phi Tuyết (Hải Lê)

Nhà xuất bản

  • “Nam Nghệ Xã” của Hiệp Hội Người Việt Tại Nhật phát hành những ấn phẩm như Việt Sử Toàn Thư, Tù binh và Hòa Bình, Từ Thực Dân đến Cộng Sản… và cũng là cơ sở ấn loát đầu tiên của người Việt Tại Nhật. Ngoài ra, dưới sự bảo trợ của Hội Liên Đới Người Tị Nạn Đông Dương (CSIR), Hội Cứu Giúp Người Tị Nạn (AAS), Bản Bộ Người Việt tại Nhật, Hiệp Hội Cố Vấn Luật Pháp, Hội Chi Viện Quốc Tế Á Châu, Caritas Japan v.v… Nam Nghệ Xã đã dịch thuật và phát hành cả ngàn quyển sách thuộc nhiều loại phát không cho người Việt tại Nhật như: Nhật Việt Dụng Ngữ, Danh Từ Y Tế, Ngữ Vựng Thường Dụng (Nhật-Việt), Ngữ Dụng Thường Nhật (Việt-Nhật), Chữ Hán, Đời sống và luật pháp tại Nhật, Tập Hướng Dẫn Cuộc sống tại Nhật, Vần Xuân Thu, Quốc Văn, Truyện Thần Thoại v.v… Biên soạn, phát hành các video “Tiếng Việt – bộ Sơ Cấp, Trung Cấp…
  • “Nhà xuất bản Tân Văn” của ông Đỗ Thông Minh phát hành những ấn phẩm của ông viết về nhiều mặt chính trị, khoa học, tự điển v.v… phổ biến rộng rãi khắp nơi trong đó có Bản Thường Dụng Hán Tự được rất nhiều người sử dụng.

Ngoài ra còn rất nhiều ấn phẩm khác của tác giả người Việt khác với đối tượng là người trong nước cũng như ngoài nước, nên xin được “tĩnh lược” vì chủ đề muốn nhấn mạnh là các ấn phẩm phát hành ngay tại Nhật dành cho người Việt tại Nhật.

Bước sang thời đại truyền thông mới, các ấn phẩm in ấn đã lần lượt đình bản để chuyển sang hình thức website, Facebook vừa nhanh lại vừa không tốn kém. Trong thời điểm hiện tại chỉ còn Nguyệt San Phụng Vụ Lời Chúa thì còn phát hành đều đặn. Ngoài ra còn có các bản tin tiếng Việt hướng dẫn đời sống, y tế… từ các tòa hành chánh quận, tỉnh hay các đoàn thể thiện nguyên giúp đỡ người ngoại quốc sống tại Nhật như Bản Tin Yêu Mến (Nhóm Việt Nam Yêu mến Kobe), Bản tin Kobe (Bản bộ tị nạn), Xin chào Kanagawa (Tỉnh Kanagawa), Bản tin của Hội Giúp Đỡ Người Tị Nạn Đông Dương, Danh sách Cơ Quan Y Tế cho người ngoại quốc (tỉnh Kanagawa) v.v…

Chắc chắn là sẽ còn rất nhiều thiếu sót. chúng tôi rất mong sự bổ túc từ quí vị để được đầy đủ hơn trong các lần tái bản sắp tới.

Truyền thanh

Khác với các quốc gia phương Tây về luật lệ và nhất là vấn đề tài chánh, cộng đồng người Việt tại Nhật đã không có điều kiện thực hiện nhiều chương trình truyền thanh, truyền hình. Chỉ có vài chương trình được ghi nhận như sau:

•           “Tiếng nói quê hương” của ban Việt ngữ đài FMcocolo ở Osaka, được phát lúc 5 giờ sáng đến 6 giờ sáng thứ sáu mỗi tuần. Nội dung: tin Việt Nam, Thể thao, Văn Hóa, Du Lịch.  (https://cocolo.jp/service/dj/dj_list)

•           “Hãy an nhiên mà sống” của Đài Radio FMYY phát thanh từ Kobe. Chương trình được thực hiện sau ngày Kobe bị động đất (17/1/1995). (https://tcc117.jp/fmyy/history/1999-2/)

•           Chương trình Việt Ngữ của đài NHK (đài của chính phủ) phát thanh mỗi ngày từ 8 giờ tối đến 9 giờ tối. (https://www3.nhk.or.jp/nhkworld/vi/news/)

Văn Nghệ

Tôi xin lấy cái mốc thời gian kể từ năm 1972, lúc tôi sang Nhật cho dễ nhớ và dễ tính để nói về sự phát triển của mảng văn nghệ người Việt tại đây.

Sau một năm chuẩn bị học tiếng Nhật và đậu vào một đại học, bước gian nan đầu tiên coi như đã vượt qua, tôi đã an tâm để tham gia các sinh hoạt văn nghệ thời đó qua một vài nhóm nhạc của nhóm sinh viên đàn anh lúc đó như “Hoài Hương”, “Medai-Mae” “Thăng Long”, “nhóm chuyên nhạc ngoại” và còn rất nhiều tiếng hát sinh viên tài tử, nếu còn tại thế trẻ nhất cũng đã thập thò ngưỡng cửa 70.

Đến năm 1973, thì không hẹn, không muốn tôi lại trở thành trưởng ban văn nghệ của Hội Sinh Viên Việt Nam tại Nhật. Sau tháng 4/75, với những cố gắng còn rơi rớt lại, tôi và một số bạn đã cố duy trì tình thần văn nghệ, tụi tôi chơi lại những bản nhạc cũ thời “quần loa ống dài”. Được vài năm thì mỗi người một ngả, nếu có những buổi tổ chức đều là dưới hình thức dã chiến, một cây đàn, một giọng ca hay hai, ba cây đàn với nhiều giọng ca, mang tính cách thính phòng. Năm 1981, nhóm rơi rớt của anh em chúng tôi cũng cố góp mặt để đời tác phẩm casset đầu tay “Đông Tiến”, một kỷ niệm đáng quí và không bao giờ quên được.

Đến năm 1982 thì tôi gặp được Huy Nguyễn và nhờ Huy Nguyễn ghi lại những tiến triển thêm về nền âm nhạc thời đó, vì lúc đó là người có thể chia sẻ niềm vui văn nghệ với tôi bất cứ lúc nào. Mời quí vị theo dõi:

Ghi lại không khí văn nghệ thủa ban đầu của người Việt đến Nhật, vào cuối thập niên 70- đầu 80

Tôi có hứa với ông anh trưởng ban văn nghệ, người đã tạo cho tôi điều kiện để sinh hoạt văn nghệ văn gừng ở cái thủa người tị nạn VN mới chân ướt chân ráo đến Nhật, tôi sẽ cố gắng ngồi viết lại những kỷ niệm, cơ duyên gặp gỡ với các đàn anh nghệ sĩ đầu tiên tại Nhật cũng như hải ngoại và hôm nay tôi bắt đầu óc của mình trở lại một thời rất đẹp theo kiểu nói ngày xưa là hoa mộng… mà chắc trong cuộc đời không có lần 2.

Năm 81 tôi đến Nhật, hành trang là cái quần rách và bộ đồ vượt biển đem từ Hương Cảng sang. Tâm trạng còn bàng hoàng sau một chuyến đi định mệnh khiến mình không còn biết phải chuẩn bị những gì khi đến vùng đất mới.

Định cư được một năm, tôi bắt đầu làm quen với những niềm vui nho nhỏ trên xứ người. Nhật Bản lúc đó đang trong giai đoạn phát triển cực thịch nên những dàn máy nghe nhạc Stereo và những cây đàn Keyboard quyến rũ đã hớp hồn chàng trai mê nhạc như tôi. Mua một cây keyboard (mà sau này gởi về VN, nghe bố tôi nói đã được Đức cha Hòa –Nha Trang tới ngắm nghía, thích vô cùng nên đã nhượng lại để Ngài sử dụng) sau những giờ cày mệt nhọc, tôi tập tành lại những nốt đàn mà ngày xưa đã lõm bõm học trong TCV Sao Biển và từ Frere Trọng Nha Trang. Học không qua trường lớp và chẳng có bài vở nên chỉ chơi theo ngẫu hứng. Tuy vậy, người Việt lúc đó ở Nhật quá ít nên một mình một cõi. 

Trong một Đại hội của người Việt tị nạn vùng Kansai, cậu bạn thân tên Khôi chơi Guitar cùng với tôi cây Keyboard, đệm cho tất cả các tiếng hát. Đầu thập niên 80, Keyboard là nhạc cụ mới, thu nhỏ từ cây đàn Electone có dàn trống đệm điện tử nghe rất lạ và đầy nên ai cũng thích. Lúc đó, có một phái đoàn từ Tokyo ghé xuống tham dự với phần đông anh em là sinh viên sang Nhật trước 75, thành viên lãnh đạo trong hội Người Việt Tự Do. Được gặp các “Dai-sempai” tiếng Nhật như gió và đặc biệt có trưởng ban văn nghệ Hội cựu sinh viên lúc bấy giờ, người đã từng chơi đàn cho ca sĩ Thanh Lan lúc “nàng” cùng nhạc sĩ Phạm Duy sang Nhật tham dự đại hội nhạc trẻ 74, nên các thằng em vô cùng ngưỡng mộ. Ngoài anh ra, còn có anh Minh Phương là thành viên đoàn ca nhạc Hoàng Thi Thơ đi cùng người đẹp phu nhân Kim Thư cũng là diễn viên múa của đoàn mà mình chỉ từng gặp trên tivi nên không khí thật tưng bừng. 

Anh chị Minh Phương theo đoàn ca nhạc Hoàng thi Thơ sang Nhật trình diễn đầu năm 75, gặp biến cố không về VN được nên đành ở Nhật giúp cho phong trào văn nghệ của người Việt đình đám một thời ở đây.

Tuy nhiên, lúc đó cũng có một chàng nghệ sĩ tị nạn rất đặc biệt… Lê Trung Kiên đến từ Wakayama, chàng ôm cây kèn Saxophone lên chơi bài Hạ Trắng sau khi nhờ ban nhạc 2 đứa đệm theo… Dù hoàn toàn không tập dợt, nhưng chơi kiểu chộp giựt ngay tại chỗ là nghề của các chàng nên tới lượt các đàn anh trố mắt kinh ngạc, khán giả thì rất là “rạo rực” chỉ vì lâu lắm rồi mới thưởng thức đúng nghĩa một tiếng kèn chuyên chở được hết mùa hạ của Sài Gòn năm xưa đến cho người nghe.


Thế là anh trưởng ban văn nghệ Nhật Bản mời ba đứa lên Tokyo chơi cho một chương trình đặc biệt: Ca sĩ Nguyệt Ánh từ Hoa Kỳ sang hát trong dịp Tết 83 phục vụ đồng bào trong trại tị nạn Fujisawa. 

Ở đây, đám đàn em gặp thêm được đàn anh đánh bass Trần Ngọc Giác, chơi trống Hồ trần Hiệp. Anh Hiệp là một cựu sinh viên khá nổi tiếng vì đã sáng chế ra cái ống mút nước ngọt cho công ty mà anh đang làm với vai trò như là một giám đốc xưởng. Nước hoa quả được cho vào ống nhựa rồi để đông thành kem, người ăn sẽ cắn một đầu và mút… Ý tưởng này theo anh nói, được hình thành từ bịch nước mía rất quen thuộc với thời ấu thơ của chúng tôi ngày xưa và sản phẩm anh vẫn bán rất chạy cho tới bây giờ, chỉ tiếc một điều anh đã qua đời vì ung thư ở lứa tuổi còn tràn đầy năng lượng. Trước đó, anh giao lại dàn trống ban nhạc cho một người bạn chúng tôi vượt biên qua sau là
Nguyễn tất Khoa (Kobe).

Ở VN, Khoa từng đánh trống cho các ca sĩ như Nhật Trường, Thanh Lan… đi hát chui ở các tỉnh nên nhanh chóng lắp ráp rất dễ dàng với anh em Nguyệt Ánh là ca sĩ đầu tiên chúng tôi trình diễn cùng nhau tại Nhật (1983), lúc đó những bài hát Vĩnh biệt Sài Gòn, Mưa Sài Gòn còn buồn không em, Em vẫn mơ một ngày về v.v… ai cũng thuộc nằm lòng trong những tháng ngày ở trại tị nạn nên rất hào hứng. Ngoài chương trình chính, anh trưởng ban văn nghệ và anh Minh Phương còn có sáng kiến tổ chức một đêm phòng trà đặc biệt trong hội trường trại tị nạn khiến mọi người thổn thức với những bản tình ca bất hủ một thời mà lâu lắm mới được nghe lại bằng “live show”. 

Mạnh mẽ và cứng rắn khi hát nhạc đấu tranh, nhưng cũng rất lãng mạn và tình tứ khi trình bày những bản nhạc vàng một thủa với vẻ đẹp mặn mà… Nguyệt Ánh đã hớp hết hồn khán giả. Cũng trong đêm phòng trà có một không hai đó, anh bạn kèn Saxo gặp lại người bạn gái thân thời trung học, mừng mừng tủi tủi. Chắc chẳng bao giờ gặp lại xúc cảm này phải không Kiên? 
Lúc đó mình cũng thèm có một bóng hồng ngày xưa nào đó hiện ra, mà chỉ có ma!

Từ dịp chơi nhạc này, các đàn anh và Hiệp Hội Người Việt tị nạn tổ chức môt đại hội âm nhạc hàng năm một hoặc hai lần, dịp Tết hoặc Giỗ tổ Hùng Vương, giúp cho chúng tôi có cơ hội gặp gỡ với những ca nhạc sĩ hàng đầu hải ngoại bấy giờ như:

  • Phạm Duy, Thái Hiền (1991)
  • Diễm Chi (1987)
  • Sơn Ca, (1989)
  • Họa Mi, (1990)
  • Don Hồ, (2000)
  • Elvis Phương, (1995)
  • Hương Lan, (1996)
  • Linda Trang Đài, Tomy Ngô (1995, 1999)
  • Công Thành- Lyn (2000)
  • Ngọc Phu (1996)
  • Phi Phi (2000)
  • Kenny Thái – Ý Nhi (1997) (Xuất thân từ chương trình tuyển chọn ca sĩ Nhật với tên thật là Lưu huỳnh Châu, con của vũ sư Lưu Hồng hướng dẫn cho vũ đoàn Hoàng thi Thơ) v.v…

Trong thời gian đó, ban nhạc chúng tôi đã được thành lập gồm 5 cái tên K-H, với ý nghỉa là nơi tập hợp những người thích câu ca lời hát. Sau đó để hợp tình, hợp cảnh ban nhạc đã đổi tên một lần nữa là Sống Giang (nói ngược của từ Sáng Giông, vì chỉ gặp nhau ban sáng, xong chuyện thì ai về đường đó, với một đoạn đường di chuyển khá xa 600km). Thời đó ban nhạc được tăng cường thêm những giọng ca ngọt ngào của phòng trà chui Sài Gòn xuống tàu sang Nhật như Tuyết Hương, người sau này trở thành phu nhân của anh trưởng ban văn nghệ; hoặc giọng ca thánh thót của một ca đoàn nổi tiếng Sài Gòn là cô Anh Đào, Nguyễn Thủy, Xuân Hoàng, Hoàng Oanh, Thu Trang, Tuyết Phụng…


Tuy nhiên năm 2000 ban nhạc “Sống Giang” đã thay đổi nhiều, khi 2 thành viên của ban nhạc thì lưu lạc sang xứ sở Kangaroo, và ban nhạc tạm rã đám, Tưởng đã giã từ sân khấu thì may quá, cách đây 4 năm, nhân dịp kỷ niệm 35 năm thuyền nhân VN đến Nhật, Cha C.S.Thân đã đứng ra tổ chức mời Lâm Thúy Vân, Thanh Lan… để anh em có dịp ôm lại cây đàn, lúc đó trưởng ban văn nghệ đã giải nghệ với bản Nắng Chiều đệm lần cuối cho ca sĩ Thanh Lan (2012) và lần đầu vào năm 1974), nhưng ban nhạc được tăng cường thêm tại chỗ với Diệm (Kobe) chơi bass, A.Tài (Kobe), A. Khánh (Osaka) guitar và vẫn tiếp tục rày đây mai đó dưới cái tên “Sống Giang” nhưng chỉ trong khu vực Kansai vì thành viên ban nhạc đều cùng ở một vùng.

Trên Tokyo thì cũng có nhiều nhóm trẻ được thành lập để hát chung với nhau, vì chắc ai cũng biết, người Việt Nam ta ai cũng thích vui, thích hát nhất là trên cái xứ sở buồn tênh này lúc nào cũng chỉ nghĩ đến công việc.

Ngoài ra, dưới sự hướng dẫn của vũ sư Lưu Hồng, anh Minh Phương, cộng đồng chúng ta có một ban vũ rất hùng hậu: trên dưới 20 người gồm cả nam lẫn nữ. Ban vũ này đã góp mặt hầu hết trong các chương trình Giỗ Tổ, giao lưu quốc tế như Bản Bộ Người Tị Nạn, Hội Sinh Viên Quốc Tế, các trường Trung Học, Đại Học Nhật Bản, các nhóm vũ Hàn quốc, Trung Quốc, Ba Tây… hoạt động suốt từ năm 1978 cho đến 2005. Càng ngày số tuổi của các “vũ viên” càng lớn, có người nay đã trở thành ông bà nội ngoại và được thay thế bằng các “vũ viên” trẻ hơn nhất định không thua các đàn anh đàn chị và đang tiếp nối truyền thống làm vẻ vang dân Việt nơi xứ người.

Ngoài ra, các đoàn thể tôn giáo như Công giáo hay Phật giáo ở Kanto, Kansai đều có những ca đoàn hay nhóm và hợp xướng trong các ngày lễ lớn của hai tôn giáo. Ở Kan sai thì có ca đoàn Himeji, Osaka, Kobe… Kanto thì có Tokyo, Kawaguchi v.v…

Vì khả năng giới hạn, nên chúng tôi không rõ, không nắm vững để không có thể tường trình chi tiết được. Xin xem đây là vài nét chính trong lãnh vực trong văn nghệ.

Vũ Khuê – Huy Nguyễn

NHỮNG CON PHƯỢNG HOÀNG GÃY CÁNH

GIAO HƯỞNG

Bài đăng trên Nguyệt san Hiệp Hội số 97 tháng 9/1998

NHỮNG CON PHƯỢNG HOÀNG GÃY CÁNH

Vào những năm 73, 74 giới nhạc trẻ Việt Nam đã tiếp nhận những dòng nhạc mới trẻ đặc sắc cũng như lời nhạc được thể hiện bằng các ý tưởng phóng thoáng, hiện thực qua các tác phẩm tự biên tự diễn của ban nhạc Phượng Hoàng. So với các ban nhạc trẻ cùng thời như Mây Trắng, Peanut Company, Crazy Dog, Uptight v.v… chỉ chuyên về trình diễn những bản nhạc ngoại quốc thịnh hành đa số được chuyển sang lời Việt, thì ban Phượng Hoàng đã tiến 1 bước khá xa trên lĩnh vực cải cách sáng tác. Đồng thời ban nhạc này cũng đã tạo được một dáng đứng thật đặc biệt trong vòm trời nhạc trẻ quốc nội khi tung ra những ca khúc tự biên về thể loại Pop/Rock mang đầy nhạc tính Việt Nam mà không chút nào chịu ảnh hưởng nơi các dòng nhạc Âu Mỹ như: Tôi Muốn, Yêu Người và Yêu Đời, Hãy Ngước Mặt Nhìn Đời, Phiên Khúc Mùa Đông, Hãy Nhìn Xuống Chân, Yêu Em…

Rồi đất nước lâm cảnh đại nạn 30.4.75, Phượng Hoàng cũng rã băng theo cơn quốc biến, kẻ ở lại quê nhà người đi ra xứ lạ. Từ đó đến nay thấm thoát đã gần 25 năm, những tác phẩm bất hủ của Phượng Hoàng thỉnh thoảng chỉ được đưa vào các chương trình đại nhạc hội, các băng video ca nhạc hải ngoại thật ít ỏi và gần như bị quên lãng. Và chính vì vậy, dòng nhạc trẻ Việt Nam dường như đã bị khựng lại, mất hẳn niềm tin và chất liệu sáng tác trên nền tảng cải cách sáng tạo cho phù hợp với âm hưởng Việt Nam. Chúng ta đã không đủ điều kiện, nhân tố hoặc không nhận thức đúng mức nội dung những tác phẩm của ban Phượng Hoàng nên các đóng góp quý báu này đã không được duy trì và phát huy chăng? Có lẽ 3 yếu tố trên đây đều đúng và ngoài ra nó cũng kèm theo một số nguyên nhân phụ khác.

Nhìn ngược về thời gian kể từ khi người Việt Nam ra đi tị nạn nơi hải ngoại thì tình hình sinh hoạt âm nhạc đã có phần khởi sắc và trải qua nhiều giai đoạn biến chuyển. Khởi đi từ những sáng tác về đấu tranh ca, tị nạn ca của các tác giả Phạm Duy, Nguyệt Ánh, Châu Đình An…, đã nói lên thân phận và tâm trạng người tị nạn Việt Nam với một khí thế sôi sục đấu tranh hướng về quốc nội mong ngày phục quốc. Sau đó thì số lượng người tỵ nạn tăng dần, cộng đồng người Việt được hình thành lớn mạnh và nhu cầu âm nhạc cũng chuyển hướng theo các bản nhạc trẻ ngoại quốc, những bài tình ca trước năm 75 trong một khí thế đấu tranh bão hòa theo xu hướng chung của thế giới. Tính từ đó đến nay, tại hải ngoại có được bao nhiêu sáng tác nổi tiếng của các ban nhạc trẻ Việt Nam? Tuy những khuôn mặt sáng tác nhạc trẻ thường xuyên ở hải ngoại như Đức Huy, Trịnh Nam Sơn v.v… cũng có nhiều đóng góp, nhưng vẫn còn mang tính cách cá nhân và nằm trong phạm vi của dòng nhạc tình ca Ballad trước đây chứ chưa có được những nét cải cách tân kỳ và độc đáo như ban Phượng Hoàng. Điển hình là các bản nhạc trước 75 và những sáng tác ở hải ngoại sau này đều có chung một điểm là các tác giả hầu như rất ít khi soạn cho bài hát câu nhạc dạo intro, các bố cục của hợp âm chuyển tiếp và câu nhạc kết. Cũng như hiện tượng một bản nhạc được quá nhiều ca sĩ trình bày khiến người nghe không phân biệt nguyên bản bài hát và đưa đến tâm lý rất ít ưa chuộng các sáng tác mới.

Trong khi đó, ngược dòng thời gian thêm chút nữa, khi cách đây vừa đúng 25 năm, Phượng Hoàng đã chợt xuất hiện trên sân khấu các đại nhạc hội Gây Quỹ Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ và 2 tác giả chuyên biên soạn, sáng tác của ban Phượng Hoàng là Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang đã cho ra đời tuyển tập nhạc đầu tay của mình.

Qua những tác phẩm này, phải công nhận là Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang đă đi tiên phong trong việc khai phá những lĩnh vực mới mẻ cho dòng nhạc trẻ Việt Nam bằng những âm điệu, tiết tấu nhanh nhẹn tươi sáng của thể loại Pop/Rock. Những tác phẩm này đều được kết cấu bởi những chuỗi hợp âm liên kết rất hợp lý, đồng thời ở các đoạn chuyển động, các câu nhập khúc intro và đoạn kết cũng cho thấy sự nối tiếp chặt chẽ trong một bố cục vững vàng phong phú. Hơn nữa qua tiếng hát Elvis Phương, ca sĩ chính của ban Phượng Hoàng, những tác phẩm tự biên này đã được chuyển đạt thật xuất sắc đến tâm cảm người nghe. Giọng ca của anh thật trầm bổng khó lường với những tần số vượt qua mức xác định của âm vực bài hát, không cầu kỳ chải chuốt nhưng hùng hồn rõ ràng, dồi dào âm sắc và nhất là có được chất thanh dịu kỳ ảo trong những âm vực thật bổng.

Nói đến các tác phẩm của Phượng Hoàng, trước tiên phải đề cập đến tuyệt tác “Phiên Khúc Mùa Đông”.

Ngay từ câu intro nhập khúc mang chủ âm Sol trưởng, bài hát đã kích thích thính giác của người nghe bằng 8 nốt nhạc liên hoàn qua nghệ thuật rải acous-tic guitar vang lên thật réo rắt, nhưng lại mang đầy những âm hưởng xa vắng cảm thương. Sự độc đáo chính là ở điểm này! Vì thông thường các hợp âm trưởng đều thể hiện những âm chất tươi vui, nhẹ nhàng nhưng Phượng Hoàng lại có lối tác cảm đối hưởng khi khởi dụng 8 nốt nhạc nói trên một cách sáng tạo và tài tình. Kế đến 8 câu thơ trong phần phiên khúc mang những lời lẽ thương cảm, phóng khoáng được trải đều qua các hợp âm Sol trưởng (G), Fa trưởng (F), Đô trưởng (C) và Rê thứ (Dm) thật nhịp nhàng. Rồi bất chợt câu solo êm dịu của đoạn chuyển tiếp xuất hiện như tuôn chảy và giải tỏa cái tâm trạng ray rứt băn khoăn, cái không khí buông lả lúc đầu, để báo hiệu cho những đợt sóng âm thanh hùng tráng kế tiếp. Đến đây thì càng minh chứng tài nghệ của Phượng Hoàng, khi nhịp trống báo vừa dứt điểm câu solo phần điệp khúc đã vang lên mạnh mẽ trong chủ âm Đô trưởng, cho thấy một nghệ thuật cải biến và đảo nghịch chủ âm giữa Sol và Đô thật linh động xuất sắc. Chỉ cần những đặc điểm nói trên, bài hát này đã vượt xa các lối sáng tác thông thường của dòng nhạc tình ca Việt Nam và nhất là nhạc trẻ. Còn về phần lời nhạc thì Phiên Khúc Mùa Đông quả là một bài thơ tình đẹp, lãng mạn, phảng phất chút triết lý hiện sinh để nói lên thú đau thương của những cuộc tình dang dở. Qua đó, ta thấy Phượng Hoàng có lối dùng từ thẳng thừng nhưng mơ mộng, kỳ bí nhưng dễ thấm nhập như: “đọa đày ấy giờ đã đến mùa… trong quan tài buồn hồn nghe thêm trống vắng, tóc chưa xanh một lần nhưng tim nghe đã thương thân” v.v… thật mới mẻ và phóng thoáng quá!

Nói chung đây là một sáng tác có tính cách để đời của Phượng Hoàng đã được giới hâm mộ thời bấy giờ rất yêu thích. 

Kế đến là cặp “song tác” bài trùng không thể nào thiếu được khi đề cập tới sự nghiệp của Phượng Hoàng. Đó là 2 tác phẩm thường được trình bày qua hình thức liên khúc, nối tiếp và đan kẽ lẫn nhau: Tôi Muốn, Yêu Người Và Yêu Đời!

Hai ca khúc này đều mang nhịp điệu Pop thật sáng sủa, sinh động đúng như tên gọi của nó. Được kết cấu bằng chủ âm Fa trưởng và kèm theo những phụ âm chuẩn xác, dòng nhạc chẳng những đã được gửi đi một cách trôi chảy mạch lạc; mà còn tạo được sự sôi nổi cuồng nhiệt nơi những trường âm mang nhạc tính của Rock. Lời nhạc thì nói lên những ước muốn hồn nhiên, chân thật, đáng yêu của lứa tuổi thanh xuân và biểu hiện sự hướng thượng cao qúi nơi tấm lòng quảng đại yêu thương, tha thứ cho mọi người. Tựu trung, nhạc tính và nhạc ý của 2 ca khúc này đã trở nên hoàn hảo. Chính vì thế mà hai tác phẩm nói trên đã đoạt giải bài hát hay nhất trong năm 73-74 của giải “Kim Khánh”.

Những nhân sinh quan, những nhận định về thân phận con người ở kiếp đời trần tục này cũng đã được Phượng Hoàng gửi gắm qua ca khúc “Hãy Nhìn Xuống Chân”. Không cần triết lý sâu xa hay ẩn dụ huyền bí cao siêu, ngay câu thơ đầu tiên mà Phượng Hoàng nhắn gửi đến chúng ta ở phần phiên khúc đã đưa ra một cái nhìn chính xác của kiếp nhân sinh: “Hãy nhìn xuống chân để thấy thua loài côn trùng, sống đời tối tăm như loài giun”. Nhạc tính của ca khúc này tuy mang âm thể tự do qua lối trình tấu rải đều guitar thùng, nhưng thật sự nó đã bàng bạc các khuôn phách của loại Folk Song, một lần nữa Phượng Hoàng lại đưa dòng nhạc trẻ Việt Nam đi vào một khu vườn mới lạ. Âm điệu trầm buồn của chủ âm Mi thứ (Em) như càng xoáy mạnh vào những lời kêu gọi tha thiết nhẹ nhàng về một sự nhận diện nơi chính bản thân mình, đừng hờn ghét, đừng tranh giành, cấu xé lẫn nhau vì chúng ta vốn là đồng loại. Sao tuổi trẻ và cuộc đời với cái nhìn của Phượng Hoàng lại cao thượng đáng yêu đến thế!

Không dừng bước chân mạo hiểm, Phượng Hoàng lại tiến xa hơn bước nữa khi đưa thể điệu Swing Rock vào nhạc trẻ Việt Nam một cách thú vị qua 2 tác phẩm “Hãy Ngước Mặt Nhìn Đời” và “Bài Hát Cho Người Tuổi Trẻ”. Swing Rock vốn là một thể điệu rất giật nẩy ở những nốt bass và các câu trống dằn nhịp, vì vậy phải nói là rất khó khăn trong việc đưa lời hát bằng tiếng Việt vào bản nhạc. Bởi lẽ tiếng Việt có lục thanh khác với các thứ tiếng ngoại quốc không có dấu nhấn giọng. Nhưng điều này cũng không cản trở nổi trước sự khai phá mãnh liệt của ban Phượng Hoàng. Kết quả là 2 tác phẩm nói trên đã rất thành công trong lời nhạc gẫy gọn, suông câu và tròn ý.

Và dĩ nhiên là thể tình ca Ballad cũng không thể nào vắng mặt trong các sáng tác của Phượng Hoàng. Bài “Thương Nhau Ngày Mưa” và “Yêu Em” là thí dụ điển hình.

“Thương Nhau Ngày Mưa” là một bản nhạc đã từng làm xao xuyến biết bao con tim xúc cảm của giới trẻ Việt Nam thời đó với đoạn điệp khúc quen thuộc thật dễ thương: “Như mưa ngày nào thấm ướt vai em, như mưa ngày nào khuất lấp sao đêm…”. Và nó cũng thuộc vào một trong các sáng tác đặc biệt của Phượng Hoàng khi câu điệp khúc nói trên được đưa ngay vào phần nhập đề của bài hát. Hai hợp âm Rê thứ (Dm) và La trưởng (A) đã thay phiên nhau đóng vai trò chủ yếu trong phần phiên khúc và điệp khúc càng tạo thêm nét trữ tình cho bài hát. Đồng thời qua thể điệu Slow Rock nhẹ nhàng vương vấn, dòng nhạc đã tựa như những cơn mưa tuôn rơi đều đặn trên các trường canh nối liền những cảm xúc của ý nhạc.

Riêng tác khúc “Yêu Em” thì lại mang một nét đặc thù là không có lời nhạc trong phần điệp khúc, thay vào đó là đoạn nhạc đệm êm dịu, lả lướt. Và mặc dù mang chủ âm Rê trưởng (D) nhưng tác phẩm này lại dày đặc những không gian gợi cảm, tao nhã với tiết tấu đều đặn của thể điệu Slow Rock. Lời nhạc cũng khá táo bạo qua cách dùng những từ “chán, ghét, khinh khi, thèm v.v… “Yêu em vì ta GHÉT buồn, yêu em vì ta CHÁN đời, yêu em vì ta KHINH KHI dối gian, ta không THÈM mái tóc huyền…”

Phượng Hoàng đã không yêu em vì em đẹp lộng lẫy kiêu sa, mà yêu em vì em chân thật, ngây ngô và hồn nhiên như những loài hoa thơm cỏ dại.

Nói tóm lại, ở các tác phẩm của Phượng Hoàng ta thấy mỗi vẻ mỗi khác nhau và mang nhiều sắc thái phong phú đa dạng, thể hiện một sự vận dụng sáng tạo trong những nét cải cách về kỹ thuật tác khúc trên phương diện tình ca nhạc trẻ Việt Nam. Lối sáng tác của Phượng Hoàng còn mang tính cách quy ước chuyên nghiệp quốc tế, khi các phần cấu tạo trong ca khúc được biên soạn kỹ lưỡng, đầy đủ và chặt chẽ từ câu intro, đoạn chuyển động nối tiếp đến đoạn kết với những hợp âm chính xác. Vì thế khi trình tấu các tác phẩm của ban Phượng Hoàng, các ban nhạc khác bắt buộc phải tuân theo bố cục này chứ không thể nào tùy tiện cải biến nhất là phần nhập khúc. Như ta thấy hầu hết những bản nhạc trước 75 cho tới những sáng tác sau này tại hải ngoại đã bị hiện tượng “lạm phát intro”, và đa số hợp âm trong bài hát đã được biến chế thêm bớt qua mỗi lần các ban nhạc và ca sĩ trình diễn. Đó chính là vì tác giả của những bài hát này đã không có lối sáng tác chặt chẽ nói trên như ban Phượng Hoàng.

Hơn 2 thập niên qua những con Phượng Hoàng đã gãy cánh, mang theo nhiều sự tiếc nuối của giới yêu nhạc trẻ và một câu hỏi khó có câu trả lời: bao giờ chúng ta có lại được một ban nhạc trẻ như Phượng Hoàng?

GIAO HƯỞNG

LỖ ĐEN – BLACK HOLE NGÔI SAO KỲ BÍ TRONG VŨ TRỤ

NGỌC QUỲNH

Bài đăng trên Đặc san Đẳng Hướng, tháng 9/1991

LỖ ĐEN – BLACK HOLE

NGÔI SAO KỲ BÍ TRONG VŨ TRỤ

Từ hàng ngàn năm qua kiến thức của con người về vũ trụ được biến đổi và phát triển theo từng thời đại. Phóng tầm mắt vào khoảng không bao la với muôn triệu vì sao, ở đó chất chứa vô số vấn đề mà con người chúng ta vẫn chưa lý giải được. Kiến thức về vũ trụ khởi đầu được xây dựng dựa trên sự quan sát các vì sao cùng với các triết thuyết về vũ trụ.

Những triết gia và khoa học gia tiên phong trong công việc tạo dựng nền móng căn bản cho ngành vũ trụ học là Aristos (thế kỷ thứ 4 trước tây lịch) và Ptolemy (thế kỷ thứ 2 sau tây lịch) với mô hình địa cầu là trung tâm của thái dương hệ. Sau đó hàng chục thế kỷ, những kiến thức và quan niệm mới đã làm một cuộc cách mạng về khoa học lẫn triết học vũ trụ. Khởi đầu là sự đóng góp của nhà thiên văn học lừng danh như Nicolaus Copernicus (1473-1543) cho rằng mặt trời là trung tâm của sự dịch chuyển. Kế đó là Galileo

Galilei (1564-1642) quan niệm rằng trái đất quay, Tycho Brahe (1546-1601), Johannes Kepler (1571-1630) chứng minh các hành tinh chuyển động quanh mặt trời theo quỹ đạo hình ellipse, Isaac Newton (1643-1727) với đóng góp tuyệt vời qua những định luật về chuyển động và hấp dẫn, đã cắt nghĩa chính xác các lý thuyết về chuyển động của các hành tinh.

Qua đến giữa thế kỷ 20, cùng với sự đóng góp đáng kể của ngành toán học và vật lý học, những dụng cụ quan sát tối tân đã cho chúng ta nhìn thấy tận những vùng không gian, những hành tinh và những thiên hà xa xôi trong vũ trụ, cung cấp cho chúng ta những kiến thức mới và chính xác hơn về vũ trụ. Đặc biệt ngành vật lý lý thuyết đã được xây dựng với những lý thuyết chính xác, nhờ đó các nhà khoa học có thể ước tính và xác định những sự kiện xảy ra tại vùng không gian xa xôi mà bằng thực nghiệm chưa có thể xác định được.

Hiện nay các khoa học gia mô tả vũ trụ dựa vào 2 lý thuyết căn bản của vật lý: đó là thuyết tương đối tổng quát và thuyết cơ học nguyên lượng. Thuyết tương đối tổng quát dùng để cắt nghĩa và mô tả lực hấp dẫn cùng với cấu trúc và hình thể của vũ trụ. Ngược lại, cơ học nguyên lượng liên quan với các hiện tượng của vật thể cực nhỏ như các âm điện tử hoặc nhỏ hơn nữa. Tuy nhiên, vấn đề mà các nhà thiên văn học hiện đại vẫn gặp nhiều khó khăn nhất trong việc lý giải đó là sự khởi đầu, tuổi tác cùng với hình thể của vũ trụ. Để cắt nghĩa phút giây ban đầu của vũ trụ, hiện nay giả thuyết đang được phần lớn các nhà thiên văn học tạm thời chấp nhận và cũng là một lý thuyết làm đảo lộn các quan niệm cũ về vũ trụ đó là thuyết vũ trụ giãn nở và vụ nổ lớn (Big Bang).

Thuyết vũ trụ giãn nở được đề xướng vào thập niên 1920 với sự đóng góp của các nhà thiên văn học như Alexander Friedman, Edwin Hubble, George Gamow… Khởi đầu của thuyết này là do các nhà khoa học kết hợp những đặc tính trong thuyết tương đối tổng quát cùng với việc quan sát sự dịch chuyển đỏ (red shift) của các vì sao. Theo hiệu ứng Doppler, tùy theo sự dịch chuyển của nguồn sóng đối với người quan sát, tần số của sóng phát ra sẽ thay đổi. Nếu là ánh sáng thường, thì độ dài sóng sẽ di chuyển về phía tím hay đỏ tùy theo nguồn sáng di chuyển về phía quan sát viên hay rời xa. Chúng ta có thể kiểm nhận lại một cách dễ dàng hiệu ứng này khi lắng nghe tiếng còi tàu, âm thanh tiếng còi nghe sắc và cao (tương ứng với tần số cao hay độ dài sóng ngắn) khi con tàu tiến về phía chúng ta và ngược lại sẽ trầm khi con tàu chạy rời xa.

Quan sát các thiên hà, các nhà thiên văn học thấy rằng các thiên hà đang rời xa chúng ta vì bức xạ phát ra từ các thiên hà dịch chuyển về phía màu đỏ của quang phổ, đồng thời các thiên hà càng ở xa thì độ dịch chuyển càng lớn. Điều này chứng tỏ là vũ trụ không ờ trong trạng thái tĩnh mà ngày càng bành trướng. Tuy nhiên, không có lý do gì để tin chắc rằng phần không gian hoặc thiên hà chúng ta đang sống là trung tâm mà các thiên hà đang rời bỏ. Ngược lại, ở mỗi vị trí của các thiên hà đều thấy các thiên hà khác đang rời xa mình, hay nói khác đi mọi vùng không gian đều trở nên lớn hơn và mọi thiên hà đều rời xa lẫn nhau. Nhưng nếu chấp nhận sự giãn nở, thì chứng tỏ thời xa xưa khoảng cách giữa các thiên hà là zero. Ở thời điểm đó vũ trụ không có thời gian và không gian, mật độ vật chất là vô hạn. Sau một vụ nổ lớn (Big Bang) vật chất được bắn tung ra ngoài không gian, khởi lập nên vũ trụ. Với quan niệm của thuyết vũ trụ giãn nở thì phải có một điểm khởi đầu mà toán học gọi là điểm dị thường (singularity), đòng thời tất cả mọi mô hình cũng như lý thuyết trước thời điểm ban đầu đều không có và thời gian chỉ bắt đầu sau khi có vụ nổ lớn. Theo ước tính của thuyết vũ trụ giãn nở thì vụ nổ lớn xảy ra cách đây chừng 10 đến 15 tỷ năm.

Vào năm 1965, hai nhà thiên văn học của phòng thí nghiệm Bell là Arno Penzias và Robert YVinson khám phá từ vũ trụ một tín hiệu vô tuyến tần số cao với độ dài sóng 7.3 cm và sóng này có tính đẳng hướng. Các nhà thiên văn học cho rằng đây là phần dư thừa của trái cầu lửa nóng 1,000 tỷ độ, có ngay sau khi vụ nổ lớn xảy ra, sau đó sự phát xạ nguội dần vì sự giãn nở của vũ trụ. Với độ dài sóng 7.3 cm, bức xạ này tương ứng với nhiệt độ của thể đen ở 3 độ Kelvin.

Cũng trong năm đó, một nhà vật lý học và toán học Anh quốc tên là Roger Penrose, dùng những đặc tính của thuyết tương đối kết hợp cùng với sự hấp dẫn, chứng minh rằng một ngôi sao co rút lại do chính hấp lực của nó sẽ bị bó lại trong một vùng không gian có thể tích là zero, vật chất của nó bị nén lại và mật độ vật chất trở nên vô hạn. Điểm mà vật chất co lại này chính là điểm dị thường và còn được gọi là lỗ đen (black hole). Do đó nếu quan sát và tìm hiểu được lỗ đen, thì chúng ta sẽ biết được thủa ban đầu của vũ trụ.

Được gọi là “đen” vì tất cả mọi tia sáng hoặc mọi bức xạ phát ra từ nó đều bị giữ lại, “lỗ” là vì không gian Rieman bao quanh chúng. Sự kiện một vật thể có cấu trúc đậm đặc và trở thành đen không là điều làm cho các khoa học gia ngạc nhiên vì gần 200 năm trước đầy nhà thiên văn học của Pháp Pierre Laplace đã tính được rằng nếu vật thể có khối lượng đủ lớn thì chúng có thể ngăn không cho ánh sáng thoát ra. Ông ta dựa vào ý niệm về vận tốc vượt thoát sức hấp dẫn của vật thể. Để thoát khỏi trái đất một phi thuyền cần phải có vận tốc vượt quá 11 km/giây, vượt khỏi mặt trời phải có vận tốc lớn hơn 617 km/giây.

Laplace tính ra rằng nếu một vật kích thước bằng trái đất, nhưng có tỷ trọng thật lớn để khối lượng gấp 250 lần mặt trời, thì không có vật thể nào có thể thắng nổi lực hấp dẫn để vượt thoát khỏi nó, ngay cả vật đó di chuyển với vận tốc của ánh sáng tức là 300,000 km/giây. Vì lực hấp dẫn tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách (tính từ trọng tâm của vật), do đó nếu ta có thể thu nhỏ trái đất mà khối lượng của nó không đổi, thi lực hấp dẫn càng gia tăng. Khi mà đường kính trái đất thu lại còn chừng 1/10 inch, thì vận tốc vượt thoát sẽ tăng lên đến 186,000 miles/giây, trái đất bấy giờ trở thành lỗ đen và đứng bên ngoài không có thể nhìn thấy được.

Sự hiện hữu của lỗ đen được phần lớn các nhà vật lý và thiên văn chấp nhận bởi vì nó được chứng minh bằng lý thuyết một cách hợp lý. Nhưng cho đến nay, chưa có kính thiên văn nào có thể quan sát thấy lỗ đen và cũng sẽ không bao giờ có thể quan sát chúng một cách trực tiếp vì nó không phát ra bất kỳ một dạng thức năng lượng nào mà có thể đo lường được. Có những ngôi sao mà mật độ vật chất rất cao, rất đậm đặc gọi là sao neutron đã được quan sát nhưng nó không phải là lỗ đen. Củng chính vì thế mà các nhà khoa học phải kết hợp lý thuyết với phương cách quan sát gián tiếp tức là quan sát các ngôi sao bị nghi ngờ nằm kế cận lỗ đen. ứng viên trong việc quan sát này là lỗ đen tên gọi Cygnus X-l, nó bị nghi là một sao đôi với một ngôi sao khác có thể thấy được và đang ở cách trái đất 7,000 năm ánh sáng (ngôi sao gần chúng ta nhất ở cách trái đất 4 năm ánh sáng).

Theo các nhà khoa học thì đời sống của một ngôi sao là sự tranh đấu giữa lực hấp dẫn và những phản ứng nguyên tử, thông thường thì lực hấp dẫn dành được phần thắng. Chính lúc khởi đầu lực hấp dẫn đã kết tụ và ép chặt các đám mảy kết hợp bởi khí để tạo thành ngôi sao. Khi năng lượng từ ngôi sao phát ra và cạn dần theo thời gian, nó sẽ co rút và đặc lại biến thành sao neutron và sau cùng là lỗ đen. Sự cân bằng tạm thời khi lực hấp dẫn ép nhân các ngôi sao lại tạo nên các phản ứng nguyên tử và chính vì thế các ngôi sao phát sáng. Lượng nhiệt khổng lồ cùng với áp suất hướng ngoại gầy bởi phản ứng tổng hợp hạt nhân bên trong phần lõi của ngôi sao đủ để cân bằng với lực hấp dẫn hướng nội. Tinh trạng cân bằng này kéo dài cho đến khi lượng hydrogen bị đốt hết, khi đó phần lõi của ngôi sao co rút lại trong khi phần vỏ bên ngoài bề mặt trương phồng thành một khối đỏ khổng lồ (red giant). Khi phần lõi co rút lại, năng lượng hấp dẫn biến thành nhiệt, nâng nhiệt độ lên đến điểm mà những phản ứng nguyên tử mới và phức tạp xảy ra, sự cân bằng có được trong thời gian ngắn.

Thông thường, các ngôi sao lấy năng lượng từ sự tổng hợp của hydrogen thành helium, sau đó helium lại được tổng hợp thành nguyên tố nặng hơn và dần dần các nguyên tố rất nặng được tạo thành trong những phản ứng tổng hợp ở nhiệt độ rất cao.

Đôi khi phản ứng tổng hợp mới có thể vượt quá sự cân bằng nên ngôi sao nổ tung thành sự nổ nova. Nhiều ngôi sao có khối lượng nhỏ (chưa lớn hơn gấp sáu lần khối lượng mặt trời) có thể thổi bay lớp vỏ bên ngoài trở nên co rút chậm chạp bởi lực hấp dẫn, chúng được gọi là sao “lùn trắng” (white dwarf). Một sao lùn trắng có thể có kích thước của trái đất mà khối lượng lại lớn hơn phân nửa khối lượng mặt trời. (Khối lượng mặt trời lớn gấp 333,000 lần khối lượng trái đất).

Cách đây rất lâu, các nhà thiên văn học đã khám phá ra được rằng sao Sirius là một ngôi sao đôi, tức là luôn luôn có ngôi sao đồng hành, và sau đó ngôi sao đồng hành là Sirius B đã được quan sát thấy dù rằng rất mờ. So với Sirius B thì sao Sirius A sáng hơn 11,000 lần. Khảo sát quang phổ của Sirius B thấy rằng đây quả là một ngôi sao lùn trắng. Theo sự tính toán thì Sirius B có kích thước lớn gấp 1.75 lần trái đất nhưng khối lượng lớn bằng mặt trời. Do đó một thìa nhỏ chất cấu tạo nên Sirius B sẽ cân nặng hàng tấn!!!

Từ khi khám phá ra sao “lùn trắng” Sirius B, nhiều ngôi sao lùn trắng khác cũng được tìm thấy. Dựa vào sự quan sát và tính toán, các khoa học gia nhận thấy rằng các ngôi sao này không được cấu tạo từ các chất thông thường như chúng ta vẫn biết. Chỉ với một thìa nhỏ vật chất mà có khối lượng hàng tấn, chứng tỏ là chúng có cấu tạo rất là đậm đặc so với các chất thường có trên địa cầu. Cho đến nay chúng ta cũng chỉ mới biết vài ba nguyên tố hóa học cùng một vài hạt nhân cấu tạo nên chúng. Biết rằng là sao lùn trắng có cấu tạo siêu đặc, tuy nhiên không phải toàn bộ sao lùn trắng đều có cấu tạo như vậy. Ví dụ trong trường hợp sao Sirius B, chỉ khoảng 3/4 vật chất của chúng là siêu đặc. Vật chất ở trong thể trạng này vì sự phản ứng tổng hợp biến đổi hydrogen thành helium, chất “tro tàn” helium này sẽ rơi vào trung tâm vì nó nặng hơn hydrogen. Ở các sao nhỏ và sao kích thước trung bình, hydrogen bao quanh helium bị đốt cháy bởi phản ứng nguyên tử, do đó càng lúc sự đốt cháy càng xảy ra ở gần bề mặt hơn. Trong khi phần nhân co rút lại đến một mức độ nào đó rồi tự sụp đổ, thì bên ngoài bề mặt lớp khí càng lúc càng trương phồng và ngôi sao biến thành khối đỏ khổng lồ (red giant).

Mặt trời của chúng ta cũng ở trong loại này và sẽ tiến đến giai đoạn này khoảng 10,000 triệu năm nữa. Trong trường hợp sao có khối lượng lớn hơn 1.44 lần khối lượng mặt trời thì khi nhân của chúng bị sụp vỡ, chúng sẽ không biến thành sao lùn trắng mà thành sao Neutron. Những sao neutron này có thể rất nhỏ, đường kính chỉ chừng 10-20 km.

Cho đến năm 1967, sao neutron chỉ được biết qua lý thuyết, nhưng trong năm đó Jocelyn Bell và Anthony Hewish của trường đại học Cambridge, Anh quốc khám phá ra những pulstar, các ngôi sao này phát ra những xung tín hiệu sóng vô tuyến và được ghi nhận một cách đều đặn. Pulstar được diễn tả như là sao neutron vì chỉ có những ngôi sao nhỏ như vậy mới có thể quay thật nhanh. Sao phát ra từ trường cực mạnh và các xung tín hiệu đến từ các hạt vi tử quay trong từ trường này. Cho đến nay đã có hơn 300 sao loại radio pulstar được ghi nhận qua kính thiên văn vô tuyến.

Với ngôi sao có khối lượng lớn khoảng gấp 3 lần khối lượng mặt trời khi tiến đến điểm sụp đổ, nó sẽ không ngưng sự sụp đổ ngay khi đã tiến đến mật độ cực đại có thể có được trong vũ trụ, thay vì thế chúng sẽ cùng bắn tung ra ngoài vũ trụ để lại một lỗ đen trống rỗng trong chân không. Ở những ngôi sao có khối lượng lớn hơn, phản ứng nguyên tử tiếp tục cho đến khi lõi của ngôi sao biến thành sắt. Không còn phản ứng nguyên tử hỗ trợ để cân bằng ngôi sao sẽ vỡ tung, phần ngoài bị bắn ra ngoài không gian còn phần lõi cô đặc lại biến thành sao neutron hay lỗ đen.

Dù rằng lỗ đen chắc hẳn đã được tạo thành bởi sự sụp đổ của ngôi sao, tuy nhiên theo dự đoán thì những lỗ đen trong Cygnus X-l chắc hẳn đã được tạo nên bởi sự sụp đổ của một sao rất khổng lồ. Có lẽ là phần nhân của sao co lại tạo nên mật độ cực cao để biến thành lỗ đen, trong khi phần bên ngoài nổ tung theo hiện tượng supernova. Một dạng thức khác để cấu thành lỗ đen là sự bồi đắp khối lượng lên trên bề mặt của sao neutron để gây ra sự sụp đổ tạo thành lỗ đen. Theo sự ước tính thì các lỗ đen có rất nhiều kích thước khác nhau. Một vài lỗ đen nhỏ được thành lập vào thời kỳ Big Bang.

Tất cả mọi lỗ đen chỉ có 3 đặc tính có thể đo lường được: đó là khối lượng, moment góc hay spin và điện lượng. Điều này có nghĩa là không có thể đo lường các lỗ đen đơn độc. May mắn thay, các lỗ đen thường không đơn độc trong vũ trụ, sự tương tác của nó với chung quanh giúp cho các nhà thiên văn học hy vọng có thể xác định được nó. Nguồn cung cấp dữ kiện đầu tiên đó là lớp khí và bụi xung quanh rơi vào trong tạo thành đĩa phẳng hình xoắn ốc. Trong trường hấp dẫn cực mạnh, sự va chạm gây ra sự phát xạ tia X hoặc đôi khi cả tia sáng nhìn thấy được. Nhân phát quang cực sáng của một vài thiên hà hình xoắn được gọi là thiên hà Seyfert và ngay cả những quasar cực sáng có thể được cung cấp năng lượng bởi lỗ đen. Do đó vật chất có thể rơi vào trong các lỗ đen có kích thước ngân hà để phóng ra các tia bức xạ. Những lỗ đen này cũng có thể gây ra sự gia tăng tỷ lệ giữa khối lượng và độ phát xạ với kích thước của các tinh vân hoặc thiên hà. Lỗ đen có kích thước của một chùm sao sẽ dễ dàng được tìm thấy nhất nếu nó có một sao bình thường khác làm bạn đồng hành quay chung quanh cung cấp khí (gas) rơi vào lỗ đen. Trong thực tế có vài ba lỗ đen mà người ta hy vọng có thể tìm thấy được theo phương cách này, trong đó nổi tiếng nhất là Cyg X-l một nguồn phát tia X cực mạnh trong Cygnus.

Như đã trình bày, lỗ đen có mật độ khối lượng cực lớn và chính vì thế chúng có lực hấp dẫn rất mạnh. Một lỗ đen với khối lượng của trái đất sẽ có đường kính với kích thước chừng vài centimét. Nếu quả đất không may đi gần nó, thì sẽ bị nó nuốt gọn và ép lại để tăng kích thước lên gấp đôi. Củng có những lỗ đen rất nhỏ, chúng không lớn hơn một proton nhung sự hình thành của nó cần tới những áp suất lớn hơn những áp suất hiện có trong vũ trụ. Những lỗ đen này có lẽ đã được hình thành vào những giây đầu tiên của vụ nổ lớn (Big Bang) hình thành vũ trụ. Thực ra lỗ đen không đen hẳn, theo sự nghiên cứu của các nhà toán học thì có sự “rò nguyên lượng” và lượng bức xạ tăng tỷ lệ nghịch với kích thước lỗ đen. Chính vì thế các lỗ đen lớn sẽ bền vững trong khi các lỗ đen kích thước nguyên tử sẽ bức xạ hết khối lượng mà chúng đã được hình thành vào thuở khởi nguyên.

Một trong những dữ kiện để các nhà khoa học luận về lỗ đen đó là sự hiện diện của các quasar. Việc khám phá ra quasar hoàn toàn do sự ngẫu nhiên. Vào năm 1960, vị trí của một nguồn phát sóng radio được xác định và đặt tên là 3C48. Năng lượng sóng radio của vì sao này cực mạnh và quang phổ của chúng rất lạ chưa từng được ghi nhận. Vào tháng 11 năm 1989, các nhà thiên văn học Hoa Kỳ và Nhật Bản đã quan sát một quasar ở cách địa cầu 2 tỷ năm ánh sáng. Sự bùng nổ của quasar này trong vòng 3 phút tạo ra một năng lượng khổng lồ tương đương với năng lượng của mặt trời bức xạ hàng triệu năm. Quasar là nguồn phát sáng rất xa địa cầu, một vài quasar ở tận cuối đường biên mà chúng ta có thể nhìn thấy được trong vũ trụ. Những quasar thường phát xạ với năng lượng của cả thiên hà dù rằng kích thước chúng nhỏ hơn thiên hà rất nhiều, một vài quasar chỉ có kích thước của thái dương hệ. Các nhà thiên văn học dự đoán là các quasar đã thu nhận phần lõi (core) của các thiên hà và được cung cấp năng lượng bởi các lỗ đen.

Các nhà khoa học tận dụng lý thuyết tương đối để chứng minh về các đặc tính của lỗ đen và cho rằng vùng không gian sẽ uốn cong bao quanh chúng. Kích thước của vùng không gian có dạng hình cầu này được đo bằng bán kính Schwarzschild, tên của nhà thiên văn học Đức đã khám phá ra hình cầu này. Những phương trình toán học mà ông dùng để tính toán cho vùng không gian này cũng giống như các phương trình của Laplace, dù rằng những phương trình liên quan đến lỗ đen thì hoàn toàn mới. Với một lỗ đen có kích thước gấp 3 lần khối lượng mặt trời thì bán kính Schwarzschild khoảng 30 km. Ớ trong vùng bán kính Schwarzschild các tia sáng không thể thoát ra bên ngoài, nếu đi gần, chúng sẽ bị uốn cong giống như trường hợp đi qua một thấu kính.

Vào năm 1963, nhà toán học úc Roy p. Kerr tìm kiếm được lời giải cho những phương trình liên quan đến sự xoay chuyển của lỗ đen, theo đó có hai sự khác biệt quan trọng giữa lỗ đen xoay chuyển và lỗ đen tĩnh. Ớ lỗ đen xoay chuyển, điểm dị thường ở trung tâm lỗ đen không phải là một điểm mà lại là một vành, hơn thế nữa không phải chỉ một mà có đến hai phạm vi diễn biến, một ở bên trong và một ở bên ngoài.

Cũng chỉ là sự ước tính, giả sử một phi thuyền không gian đi qua vùng phạm vi diễn biến để đến vành dị thường của lỗ đen, sẽ có rất nhiều trường hợp xảy ra. Nếu phi thuyền bay đến tâm điểm của vành diễn biến trên cùng mặt phẳng với vành, phi thuyền sẽ bị hủy diệt. Nếu phi thuyền đi đến tâm điểm theo một góc độ nào khác, thì sẽ đi ra khỏi lỗ đen để đi vào một vũ trụ khác của vùng không gian âm, trong toán học nó tưomg đương với vũ trụ phản hấp dẫn trái ngược với vũ trụ của chúng ta. Nếu phi thuyền đi vào vùng phạm vi diễn biến nhưng không đến vành dị thường, phi thuyền cũng có thể thoát ra khỏi lỗ đen để đi vào vũ trụ khác mà tương ứng với toán học là vùng quá khứ hoặc tương lai, trong trường hợp này lỗ đen trở thành chiếc máy thời gian.

Gần đây các nhà vật lý thiên văn dự đoán một dấu hiệu khác của lỗ đen có khối lượng cực lớn. Từ công thức nổi tiếng của Einstein E = Mc2 cho thấy sự liên hệ giữa khối lượng và năng lượng, và điều này thường được ghi nhận trong các máy gia tốc nơi mà các vi hạt năng lượng cao va chạm với nhau tạo nên nhũng vi hạt mới. Các nhà khoa học mong rằng gần những lỗ đen những hiện tượng tương tự sẽ xảy ra khi các khối khí rơi vào lỗ đen sẽ bị nung nóng cực độ, lúc đó các vi hạt sẽ va chạm với nhau tạo sinh những vi hạt mới. Thật vậy, lỗ đen bị bọc bởi một trường hấp dẫn cực lớn và mật độ quang tử cao, các quang tử này va chạm với nhau như những vi hạt khác. Mỗi sự va chạm giữa hai quang tử sẽ làm phát sinh một electron và một phản hạt là positron. Các electron và positron lại va chạm phát sinh năng lượng mà theo lý thuyết có thể ghi nhận được.

Một kết luận hấp dẫn có thể có đựợc sau phản ứng đó là vật chất mới sinh ra sẽ làm dẹp phần bọc lớp khí bao quanh lỗ đen. Nếu cường độ ánh sáng quá cao, những sự va chạm của quang tử sẽ trở nên cuồng loạn không cản được, sự tạo thành electron và positron sẽ đánh tháo toàn bộ năng lượng. Khối khí tiêu hết năng lượng nhiệt và áp suất sẽ bị sụp đổ. Khi sự sụp đổ xảy ra, khối khí gần lỗ đen nhất lại sẽ được nhận năng lượng hấp dẫn mới, càng nhiều khối khí tuôn vào và như thế phản ứng lại tiếp tục xảy ra như trước. Sự bức xạ cùng với phản ứng xảy ra ở khối khí giúp cho các nhà khoa học xác định được vị trí của lỗ đen và đo lường được khối lượng của nó. Để có thể ghi nhận được dữ kiện từ các hiện tượng này, các khoa học gia chú trọng đến phần quang phổ của tia X và tia Gamma vì chỉ có những tia này mới đủ năng lượng tạo nên các hạt. Một vấn đề khác cũng phải được đặt ra, đó là xây dựng những máy dò có khả năng thu nhận các tia này. Trong năm vừa qua, một máy đo loại này đã được lắp đặt trên kính thiên văn không gian Hubble và nếu không bị trục trặc kỹ thuật, kính này có thể nhìn tận vùng trung tâm của những thiên hà kế cận để tìm kiếm những lỗ đen kỳ bí.

TẾT TRONG THƠ VĂN VIỆT NAM

THY VŨ

Bài đăng trên Phụ trang Á Châu, số Xuân Bính Dần năm 1986

TẾT TRONG THƠ VĂN VIỆT NAM

“Trời sắp Tết hay lòng mình đang Tết

Tôi mượn câu thơ cùa Nguyễn Đình Toàn để mở đầu bài viết này, cũng như để mở đầu lòng tôi khi bước qua năm mới. Đã có rất nhiều người viết về Tết, nhiều Thơ và Nhạc ca ngợi Tết, mùa Xuân.

Từ cái thuở mới dựng nước xa xôi của mấy ngàn năm trước, Tết đã có mặt trong câu chuyện cổ tích “Bánh Chưng Bánh Dày” mở đầu cho món ăn quốc hồn quốc túy bất hủ. Tết có mặt khắp mọi nơi trong tự tình dân tộc, Tết hiện diện thiêng liêng trong lòng mỗi người, ở mỗi thổ ngơi, mỗi làng, mỗi xã Tết có một sắc thái riêng biệt, nhưng dù bất cứ ở đâu, trong bất cứ khó khăn nào, cái Tết Việt Nam vẫn còn giữ nguyên sắc thái cổ truyền và dân tộc tính, lẫn vào đó là sự duyên dáng, uyển chuyển tùy theo hoàn cảnh, phong tục và thời gian của dân bản xứ.

Khi còn là cô học trò lớp Đệ Thất, tôi đã say mê ghi chép lai những vần thơ hay của những nhà thơ tiền chiến như Nguyễn Bính, Huy Cận, Quang Dũng, Hoàng Cầm…hoặc gần hơn là những ý thơ của Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Nguyên Sa…cũng vào lúc đó tôi đã ôm cuốn Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến như là một cuốn sách gối đầu giường. Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Tú Xương là những nhân vật thần tượng của tôi ngày xưa, tôi đã không bỏ một giờ Kim Văn nào vào những năm đầu của Bậc Trung Học. Rồi thời gian qua, khi cô học trò lớp Đệ Thất đã trở thành cô nữ sinh lớp Đệ Nhất, đã biết mơ mộng mưa chiều nắng sớm, đã mở cửa căn nhà nhỏ cho người trong mộng tưởng, thì những bài thơ tình của Vũ Hữu Định, Kim Tuấn, Nguyễn Tất Nhiên… lại là những thần tượng mới. Trong khả năng hạn hẹp, tôi xin được ghi chép lại một vài áng thơ hay trải dài từ vài thập niên trước đến nay.

Trước hết, chúng ta hãy lắng tai nghe Hàn Mặc Tử nhìn mùa Xuân mà ông đã tưởng tượng thuở trời đất lúc mới khai sinh ra mùa Xuân, đã không có sầu bi ai oán :

Mai sáng mai, trời cao rộng quá 
Gió căng hơi và nhạc lên mây 
Đôi lòng cũng ấm như xuân ấm 
Chỉ có ao xuân trắng trẻo thay. 

Mai này thiên địa mới tinh khôi 
Gió căng hơi và nhạc lên trời 
Chim khuyên hót tiếng đầu tiên hết 
Hoa lá hồ nghi sự lạ đời. 

Trái cây bằng ngọc vỏ bằng gấm 
Còn mặt trời kia tợ khối vàng 
Có người trai mới in như nguyết 
Gió căng hơi và nhạc lên ngàn. 

(Xuân đầu tiên)

Cùng một cảnh sắc, mỗi nhà thơ đều có những cái nhìn khác nhau, Tản Đà đã mượn mùa Xuân để thổ lộ những chua chát ê chề khi còn thơ ấu, Hàn Mặc Tử đã tưởng tượng mùa Xuân lúc mà Trời Đất chưa biết gì về là ê chề, đau khổ, còn Vũ Hoàng Chương đã nhìn mùa Xuân qua chiến thắng lẫy lừng cua Nguyễn Huệ trong Trận Đống Đa:

Nhớ Trận Đống Đa thương mùa Xuân tới 

Sầu Xuân vời vợi 

Xuân Tứ nao nao 

Nghe đêm trừ tịch máu nở hoa đào 

Ngập giấc xuân tiên lửa trùm quan tái

Mặt nước Lô Giang lò trầm biếc khói 

Mây núi Tản Viên lộng tía dương cao 

Rằng đây: bóng kẻ anh hào 

Đã về ngự trên ngã ba thời đại 

Gấm vóc giang sơn còn đây một giải

Một nhà thơ được nhiều người yêu thích qua lời thơ mộc mạc là Nguyễn Bính, ông đón Xuân bằng chén rượu nồng, cay đắng mừng người yêu đi lấy chồng:

Cao tay nâng chén rượu nồng

Mừng em, em sắp lấy chồng xuân nay 

Uống đi, em uống cho say 

Để trong mơ sống những ngày xuân qua

Hoặc ông tả lại mối tình của cô lái đò ngày ngày vẫn đưa khách sang sông, nhưng tình quân thì vẫn biền biệt, chờ đợi hoài không thấy nên một buổi sáng mùa Xuân, cô đi lấy chồng, tạo nỗi buồn cho những khách qua sông.

Bỏ thuyền bỏ lái bỏ dòng sông 

Cô lái đò kia đi lấy chồng 

Vắng bóng cô em từ dạo ấy 

Để buồn cho những khách sang sông

Trong những bài Thơ ca ngợi Tết của những nhà thơ hiện đại, ta thấy hầu hết là trước khi đề cập đến chữ Tết, luôn luôn có những từ như tháng Mười Hai, tháng Chạp.

Tháng Chạp về rồi bé thấy không 

Một chút màu xanh, một chút hồng 

Một chút vàng mơ và tím nhạt 

Chưa giao thừa Tết đã trong anh

(Mường Mán)

không những chỉ có từ tháng Mười Hai hoặc tháng Chạp để ngụ ý chỉ cái Tết, mà những từ ngữ nhơ Tờ Lịch, Ngày Tháng, Tuổi hoặc cuối năm cũng là một cách hành văn để ngỏ ý xa xôi bóng gió là Tết sắp đến. Tiếng Việt Nam quả thật là phong phú.

Xé tờ lịch cũ với năm tháng 

Tình có phai dần theo tháng năm.

(Mường Mán)

Hay

Thêm một tuổi nghĩa là đi trở lại 

Những con đường tan nát suốt năm qua 

hoặc là

Chiều cuối năm nhạt bóng hoa đào

(Mường Mán)

Và mùa Xuân, từ trước đến giờ vẫn là biểu tượng thuần túy, ý nghĩa nhất của cái Tết Việt Nam. Điều này đã được thể hiện rất nhiều trong văn chương.

Tháng 12 gió về chưa ấm tuổi 

Cỏ mùa Xuân kề cận ở bên lòng 

Và ngày tháng đưa ta trở lại 

Thành phố xưa chợt thấy hoa cười 

Mùa Xuân chín vàng tươi vui áo mới 

Nhìn riêng ta lòng đã ngậm ngùi

(Từ Kế Tường)

Cũng chưa hẳn không phải chỉ có mùa Xuân là biểu tượng của Tết, các cụ xưa đã dùng hình ảnh hoa đào và ông Đồ, dưới ngòi bút sắc sảo của thi sĩ Vũ Đình Liên bài thơ đã cho chúng ta thấy tinh thần tôn trọng nho học của dân tộc Việt Nam.

Mỗi năm hoa đào nở 

Lại thấy ông đồ già 

Bày mực tàu giấy đỏ 

Bên phố đông người qua.

Tết không những chỉ được đề cập trong sách vở, trong thơ, trong nhạc, Tết còn được nâng niu, nhắc nhở trong văn chương truyền khẩu, trong ca dao, trong các câu đối, trong lời mẹ ru con.

Lẹt tẹt đùng, lẹt tẹt đùng 

Tết đến sau lưng kể mừng người tủi

Hay những câu đối bất hủ được truyền tụng mãi tới ngày nay:

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ 

Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh

Nhưng đó là những cái Tết vàng son trong quá khứ, những cái Tết phủ đầy hương trầm, khói pháo, mặn nồng ly rượu đầu năm. Còn bây giờ, ngoài những kẻ may mắn như chúng ta, thì tại Việt Nam dân tộc ta còn hưởng được những cái Tết như ngày xưa hay không?

Trong Tiếng Vọng Từ Đáy vực, ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện đã phôi bày cho thế giới thấy rõ “mùa xuân bất tận” ở thiên đường Việt cộng.

Khắp non sông mang nhịp đàn xuân sáng 

Lòng nặng nề khôn mở đón Xuân sang

Xuân ước mơ, mơ ước đóng băng rồi 

Thắm nở đào hoa, sắc lòng tím ngắt 

Sáng biếc mây trời, tối sầm ánh mắt 

Giải đời buồn, xuân vẫn tới xuân ơi!

Muốn cao bay theo khúc đàn Xuân mới 

Hôn nắng chìm, đôi cánh rủ đau rơi 

Năm tháng trôi, hồng thắm sắp phai rồi

Thắm nhạt, hồng phai, tiếng lòng thổn thức 

Hiến khúc tưng bùng dàn xuân náo nức 

Lỗi nhịp rồi, xuân hỡi chớ ngân cao!

Ước mơ chi khi nợ nần cơm áo 

Còn nặng đè lên hình xác xanh xao 

Xuân đến kia, hồn nước chửa thaỵ màu 

Lỗi hẹn cùng Xuân, tiếng đời vắng ngắt 

Biết đến bao giờ xuân mới tắt 

Tiếng nghẹn ngào sai lỗi nhịp xuân ơi!

Xuân thắm tươi, xuân của Đất của Trời

Xuân xám ngắt, xuân của người của nước!

(Khắp non sông)

Ngồi ôn lại ngày buồn ngày vui mà lòng chạnh nhớ quê hương. Bây giờ cũng Xuân về, Tết đến, đồng bào ta chắc sẽ hưởng xuân ở trong lòng, vì chung quanh, mùa Xuân hay Tết chỉ còn là tiếng vọng từ quá khứ bi lãng quên.

Đêm nay giao thừa, ngoài sân gió thổi 

Lá vàng rơi, xơ xác cành khô… 

Sương rắc bụi mờ…

Ta ngồi viết mấy vần thơ

Giải niềm oan khổ

(Nguyễn Chí Thiện)

Và chúng ta, những người nơi hải ngoại, đón Xuân về, mừng Tết đến thử hỏi chúng ta đã làm gì được cho đồng bào ta ở quê nhà, nơi đất tạm dung, mỗi mùa Xuân là một mốc thời gian để chúng ta nhủ thầm lòng cố gắng. Xin mượn 2 câu thơ của cụ Đông Hồ để kết thúc bài viết:

Mỗi năm ăn một mùa xuân nhỏ 

Đợi một mùa xuân lớn chửa về.

Mùa Xuân lớn đó, có chóng đến hay không, đó là tùy thuộc vào chúng ta cố gắng nhiều hay ít.

NGẮT HOA CÀI LÊN TÓC!!

BÙI BẢO TRÚC (KÝ GIẢ BÊ TÊ)

Bài đăng trên Nguyệt san Hiệp Hội số 135 tháng 11/2001

NGẮT HOA CÀI LÊN TÓC!!

Thú thật với bạn, tôi không biết Võ Thị Sáu là người như thế nào. Tôi chỉ nghe tên nàng một đôi lần, và biết rằng tên của nàng nay đang ngự trị trên một con đường nào đó ở Sài Gòn. Nhưng bữa nọ, khi đọc bức thư của một nữ độc giả trẻ tuổi viết cho tờ báo của hội các nhà báo trong nước, tôi mới biết thêm được một chi tiết khác về người phụ nữ nầy.

Cô học trò lớp 12 ở Lâm Đồng viết cho ban biên tập của tờ báo rằng mới đây, cô có được xem một bộ phim của đài truyền hình trung ương, phim “Như Một Huyền Thoại” dựa trên kịch bản của Nguyễn Quang Sáng về cuộc đời chị Sáu, “người con gái đất đỏ”. Trong thư, cô học trò cho biết rất thích cuốn phim nầy, nhưng cô tiếc là nhà làm phim đã bỏ qua một chi tiết rất “đắt”. Cô cho rằng nhà làm phim đã bỏ phí chi tiết đó.

Theo cô học trò trẻ tuổi mà biết nhiều chuyện, trên đường ra pháp trường của thực dân Pháp, người anh hùng Võ Thị Sáu đã “ngắt hoa cài lên tóc” trước khi bị bắn. Tác giả bức thư hi vọng trong cuốn phim sắp tới, nhà làm phim của ngành công an sẽ không “bỏ phí chi tiết quí giá nầy”.

Tôi đồng ý chuyện ngắt hoa cài lên tóc là một chi tiết tuyệt đẹp. Một hành động rất đàn bà, rất làm đỏm, rất người, rất lãng mạn. Võ Thị Sáu nếu quả thật đã làm công việc đó, thì tôi phải xin lỗi nàng. Tôi vẫn nghĩ nàng nhan sắc phải như Viềng, người phụ nữ nửa người nửa ngợm mà Dương Thu Hương tả trong “Tiểu Thuyết Vô Đề” hay như mấy em du kích bà ba đen sắt máu, mặt mày vẩu viu mang vẻ đẹp như Chị Doãn của Vũ Trọng Phụng trong những bức hình chụp ở Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Theo tiết lộ của cô học trò, Võ Thị Sáu không những là một người anh hùng Cộng Sản, lại còn Ià một con người đầy nữ tính, trên đường ra chỗ xử bắn vẫn có một nỗ lực làm đẹp. Bỏ qua hành động lãng mạn nầy là một việc đáng tiếc.

Nhưng đó là trường hợp nếu Võ Thị Sáu thật sự có ngắt hoa cài lên tóc. Tôi thì nghĩ là không.

Cuốn phim về Võ Thị Sáu nhất định là một cuốn phim kể lại cuộc đời chống Pháp của chị Sáu. Hình ảnh chị Sáu phải được tạo ra bằng những nét hùng nhưng đẹp. Trong khi đó, hình ảnh của thực dân Pháp thì phải là những hình ảnh tàn ác, dã man. Chị Sáu chống Pháp, chị bị Pháp bắt, đày ra Côn Đảo, chị bị giam, chị bị tra tấn. Cuối cùng chị bị đem hành quyết. Tàn ác như vậy là không thua gì “chính phủ ta” chút nào.

Nhưng đưa thêm chi tiết để chị Sáu ngắt hoa cài lên đầu thì làm khó Tây thực dân quá.

Tưởng tượng chị Sáu, trong buổi sáng bị đem ra pháp trường, cai ngục Tây đến mở cửa chuồng cọp, kêu chị đi ra, Sáu đáp vọng ra bằng giọng nhõng nhẽo và ngái ngủ… “hổng có chiụ đâu” vì Sáu còn đang ngủ. Tây thực dân bèn lịch sự ra cửa đứng chờ, tay quây quây xâu chìa khóa, mặt mũi chằm vằm, hung ác. Nửa tiếng sau, Tây mũi lõ lại khua dùi cui vào chấn song, giục Sáu lè lẹ cho Tây bắn sớm về sớm còn nghỉ. Sáu đáp vọng ra rằng không ai được vào khi Sáu chưa…quét vôi xong. Chờ đã đời, cuối cùng, bôi son, trét phấn xong, Sáu mới bà ba lụa, nước hoa thơm lừng uốn éo đi ra. Tây tuy thực dân nhưng không quên nịnh đầm, bèn đứng nép sang một bên, mở cửa xà lim, nhường lối cho Sáu. Sáu bước ra, Tây thực dân ké né phía sau. Trên đường ra gần phi trường Cỏ Ống ngày nay, Sáu bỗng trông thấy những bông hoa rực rỡ mọc bên bờ đường. Sáu ngừng lại. Đám lính Tây cũng ngừng lại. Sáu ngồi xuống, nhìn những bông hoa đang cười trong gió sớm. Sáu ngước nhìn về phía đất liền. Những giọt lệ long lanh trên khóe mắt. Sáu ngắt lấy mấy bông, cài lên mái tóc mềm như tơ… Trong tay, Sáu cầm một bông, đi tiếp con đường tới pháp trường. Sáu ngó xuống những cánh hoa mọc đều quanh chị. Tay Sáu bứt một cánh, thổi cho bay trong gió Côn đảo. Sáu lẩm nhẩm: “Bác yêu Sáu…Bác không yêu Sáu…Bác yêu Sáu… Bác không yêu Sáu…” Khi chỉ còn cánh hoa cuối cùng thì cũng đúng là câu: “Bác yêu Sáu”. Võ Thị Sáu cười rạng rỡ, bước tới chiếc cột, nhìn thẳng vào những họng súng của tiểu đội hành quyết. Một loạt súng nổ vang, Sáu ngã xuống. Những bông hoa bay lơ phơ trong gió. Trên môi Sáu một nụ cười. Trong bàn tay phải, còn một cánh hoa…”Bác yêu Sáu”..”He loves me… he loves me not…he loves me…”

Truyện phim được viết lại như thế may ra mới “đạt yêu cầu” của cô học trò nhỏ. Chi tiết ngắt hoa cài lên tóc sẽ không bị bỏ sót. Các anh cán, chị cán còn xem nhất định sẽ khóc ầm lên mùi mẫn ví cảm động.

Nhưng như vậy, Tây thực dân lại có vẻ dễ thương hơn cách mạng mất thì sao?

Chị Sáu không thể ngắt hoa cài lên đầu như mấy anh chuyên viên truyền hình rẻ tiền của nhà nước ngồi tưởng tượng ra và đầu độc cô học trò nhỏ. Chị Sáu ít nhất phải bị đánh cho thừa sống thiếu chết, không thua gì cán bộ ta đánh tù Ngụy. Chị Sáu, khi bị đưa ra pháp trường chắc chắn cổ phải đeo gông, chân phải đeo xiềng, tay phải đeo còng. Chị bị điệu ra pháp trường chứ không phải được cho đi picnic mà nói chuyện hái hoa, ép bướm để mà ngắt vài bông hoa cài tóc cho đẹp gái. Chỉ cần đi chậm bước là chị có thể bị cho ăn báng súng lập tức, nói gì đến chuyện ngồi xuống vệ đường ngắt vài bông hoa làm đẹp. Mà lúc đó, chị đầu bù tóc rối trông như những người vợ…cũ (của mấy ông Tây) thì lấy đâu mà đẹp cho được.

Khổ quá, bây giờ đã gần cuối thế kỷ 20 mà sao còn ấm ớ như thế nầy?

Hai bậc anh thư quê ở Châu Phong thì “lau phấn son mưu thù nhà” chứ có bao giờ vừa đánh Tô Định vừa phải bôi Mascara, đánh rối tóc, vẽ eye shadow, thoa chút phấn, đánh tí son đâu…và khi nhảy xuống sông Hát, chắc chắn hai bà cũng không cần phải ngắt hoa cài lên đầu bao giờ hết.

Cô Giang trước khi tự tử, Bùi Thị Xuân trước khi chết đều không cần làm những cử chỉ lãng mạn rẻ tiền mà mấy cậu văn nô vẽ nhẩm ra như thế bao giờ. Hay là chị Sáu thì đẹp não nùng, còn Tây thực dân tử tế hơn cách mạng nhiều?

SỚ TÁO QUÂN

ANH THUẦN

Bài đăng trên Phụ trang Á Châu, số Xuân Bính Dần 1986

SỚ TÁO QUÂN

Dạ dạ…

Muôn tâu bệ hạ

Thần táo qui gia

Mong lệnh hải hà

Thiên nhan che chở

Từ khi thần ở

Mảnh đất Phù Tang

Người người rộn ràng

Làm ăn cật lực

Ai cũng ra sức

Tiếp vận bên nhà

Nên mấy năm qua

Vẫn danh Ưu Việt

Nhân số tuy ít

Nhưng tinh thần nhiều

Quỳ trước Thiên Triều

Thần xin khẩn tấu

Mọi điều không dấu

Để Bệ Hạ tường

Về TẾT QUÊ HƯƠNG

Trong năm Ất Sửu

Trung ương nghiên cứu

Chi Bộ thi hành

Thành công vượt bực

KANTO ra sức

KANSAI trổ tài

HIMEJI oai

OKINAWA dũng

OSETO đúng

Như Tết Quê Hương

Báo chí địa phương

Truyền hình khen ngợi!

Còn có Đại Hội

Ất Sửu 85

Kanto hà rầm

Kansai nhộn nhịp…

Thần xin tâu tiếp

VẬN ĐỘNG TỰ DO…

Triển khai thật to

Tại LÀNG ĐÔNG TIẾN

Sau đó di chuyển

FUJISAWA Rồi

Rồi về đất nhà

Tokyo rường cột

Chữ ký thu tốt

Vượt hẳn dự trù

Về CHUYẾN CÔNG DU

Của HOÀNG CHỦ TỊCH

Thật là hữu ích

Cho đồng bào ta

Sóng gió đã qua

Hiểu lầm cũng hết

Sau khi thấm mệt

Sức lực lại tăng

Hoạt động rất hăng

Xin khen Nhật Bản

Luôn luôn xứng đáng

Mảnh đất THÀNH ĐỒNG

Bức xích phá gông

Diệt loài Quỉ dữ!

29 tháng 4

ĐÔNG KINH ĐẠI HỘI

Chi Bộ lặn lội

Vạn dặm về đây

Góp sức dựng xây

Hạ tầng cơ sở

Thần xin tiếp sớ

Về THÁNG TƯ ĐEN

Giờ dứt ưu phiền

Người người đứng dậy

Quyết tâm bẻ gãy

Chế độ cuồng ngông

Trên dưới một lòng

Sát vai KHÁNG CHIẾN

Trăm người lên tiếng

Triệu người đáp lời

Kháng Chiến ra đời

Toàn dân mãn nguyện

Thần xin được chuyển

Lời khen dân Nam

Đã quyết thời làm

Không hề nao núng!

Thiếu tiền mua súng

Thời dân chung lo

Kháng Chiến cơm no

Nhờ dân Tiếp Vận

Bước đầu lận đận

Nhưng sẽ huy hoàng

Mọi việc chu toàn

Nhờ dân góp sức!

Hoạt động tích cực

Có giới thanh niên

Và các sinh viên

Du học thuở trước…

Nơi đây xin được

Khen XỨ BỘ nhà

Từ trẻ tới già

Xả thân không mệt

Sớ tâu chưa hết

Còn 74 hàng

Nói về Nhật Bản

Thật lắm điều hay!

KANSAI năm nay

Giao lưu Việt-Nhật

Người người tấp nập

Tham dự đông ghê!

TOKYO về

HIMEJI tới

KYOTO rỗi

Cũng xuống góp vui

Nhật- Việt nếm mùi

Thức ăn dân tộc!

Thiếu món BÚN ỐC

Nhưng có VỌNG HƯƠNG

Rồi lại lên đường

TRẠI HÈ QUYẾT THẮNG

Tâm tư trĩu nặng

Vì Tâm đồng bào

Chung góp giúp nhau

Tỏ tình ruột thịt

Của trao tuy ít

Nhưng tấm lòng nhiều

Ôi thật đáng yêu

TÌNH NGƯỜI TỊ NẠN

PHONG TRÀO Nhật Bản

ĐẠI HỘI KỲ III

Vui cửa vui nhà

Tăng thêm sinh khí

Ai cũng quyết chí

Nỗ lực triển khai

Chiến Dịch HẢI NGOẠI

NỨC LÒNG TIẾP VẬN

KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM

Kết quả huy hoàng

Nhờ dân tích cực

Người người ra sức

GÓP GẠO NUÔI QUÂN

Già trẻ hợp quần

Tạo thêm sức mạnh

Hiệp Hội cám cảnh

Quyết tâm chấn chỉnh

Để thêm bản lãnh

Phục vụ Đồng Bào

HỘI XUÂN 86

Dự trù thật xôm

Đang bắt tay làm

Được tin sét đánh

IKAWA lưu manh

Bôi nhọ dân mình

Khắp nơi toan tính

Lấy huyết hắn ta

Căng nọc y ra

Triệu roi cùng đét

ASAHI nói phét

Tiếp trợ Bạo-quyền

Ta chẳng để yên

Quyết ăn thua đủ!

Mình có thân hữu

Nhật Bản tiếp tay

Trong cuộc tỏ bày

Hành động phản ứng

Người người đứng vững

Quyết tâm không nản

“Hoso”[1] Nhật Bản

Tiếp trợ cùng ta

Hoá giải điều tà

Xây tình thân hữu

Nippo[2]  tiếp cứu

Phản pháo dài dài…

BIỂU DƯƠNG 22

Ôn hoà triệt để

Khiến Nhật phải nể

Dư luận hài lòng

Sẵn sàng góp cồng

Với ta đánh gục

“ASAHI Ô NHỤC

IKAWA NGU ĐẦN”

Sang Năm Bính Dần

Ta cho nổ tiếp

Dưới trần cần kíp

Thần Táo phải về

Trị kẻ u mê

Cứu nguy trăm họ

Thần xin chúc Thọ

Tất cả Thiên Triều

Người Việt đáng yêu

Xin Trời ban phước!

TÁO KHÁNG CHIẾN Á CHÂU

Xin cúi đầu SAYONARA Thượng Đế

Tiểu Táo sao lục.


[1] Đài Phát Thanh Nippon Hoso Nhật Bản

[2] Nhật Báo Sekai Nippo

ĐOÀN CHUẨN – NGƯỜI TÌNH CỦA MÙA THU

NGUYỄN THỊ XUÂN LỘC

Nguyệt san Hiệp Hội số 137 tháng1/2002

ĐOÀN CHUẨN – NGƯỜI TÌNH CỦA MÙA THU

Hình như phải có những nhân duyên đặc biệt nào đó, người ta mới biết được giới nghệ sĩ, mới quen được người nghệ sĩ, và hiểu được cuộc đời của họ. Dường như nghệ sĩ là những người sống gần nhất với ý muốn của Thượng Đế, họ sống thoát vòng kềm tỏa, giáo điều của con người. Họ không sống cho riêng họ, họ chia xẻ cuộc sống với thế gian, với ai đó, bất luận gần gũi hoặc xa xôi. Họ cảm thông với thay đổi của đất trời và luôn trao gửi trái tim lúc nức nở cũng như khi reo vui đến tha nhân một cách cẩn trọng, chân thành. Tôi là một trong hằng triệu triệu người đón nhận và nâng niu những ân tình ấy. Đã có lúc tôi ước được là Đôi Mắt Người Sơn Tây của Quang Dũng, để chàng nhìn ngắm và tưởng nhớ trong đáy cốc giữa chiến trường…

Khói thuốc xanh giòng khơi lối xưa…

đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ…

thoáng hiện em về trong đáy cốc…

 nói cười như chuyện một đêm mơ…

Tôi cũng đã ước được là người thơ của Hoàng cầm để nghe tiếng thì thầm:

“Em ơi, buồn mà chi…

mai Anh dưa em về bên kia sông Đuống…

nằm nghiêng nghiêng bên Kháng Chiến trường kỳ…”

Hay được cùng Hữu Loan chia xẻ nỗi thương đau…

Tóc nàng hãy còn xanh…

ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới…

tôi ở đơn vị về cưới nhau xong là đi…

nhưng không chết người trai khói lửa

mà chết người em gái nhỏ hậu phương…

Những suy nghĩ đầy tình người của người nghệ sĩ đã khiến cuộc đời thăng hoa với muôn ngàn hạnh phúc. Hạnh phúc thường được định nghĩa như những gì lấp lánh, quý giá, dễ mất, và ngắn ngủi, hoặc gắn bó với một mốc thời gian nhất định nào đó của quá khứ, nhưng hạnh phúc cũng là những gì vĩnh cửu theo ta suốt cuộc đời như Tà Áo Xanh, như Lá Đổ Muôn Chiều, như Thu Quyến Rũ…

Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn người tình chung thủy của mùa Thu, tác giả của Tà áo xanh, của gửi gió cho mây ngàn bay, của lá thư… vừa ra đi.

Viết về nhạc sĩ Đoàn Chuẩn trong lúc này thì không gì hơn là cùng nghe những tình ca của ông, để nhớ đến mùa thu năm xưa, ngào ngạt hương, để nhớ đến ngày nào cùng xõa tóc thề hẹn lời ân ái, để nhắc nhau Anh còn nhớ em nói rằng sao mùa xuân lá vẫn bay, sao mùa xuân lá vẫn rơi, để thấy áo xanh hơn, tình đầy hơn, để quên đi dang dở, quên đi ái ân phai màu…

Nghe nhạc Đoàn Chuẩn để cảm thương người nhạc sĩ tài hoa, nhưng cũng để bắt gặp một người Việt đáng kính trọng.

Tin Đoàn Chuẩn qua đời vào lúc 9 giờ 50 tối giờ Việt Nam ngày 15 tháng 10 tại Hà Nội đã khiến tôi xúc động. Từ sau năm 1975, tôi biết được tin của một số văn nghệ sĩ miền Bắc đã trải qua một cuộc sống ngặt nghèo, với bao nỗi ngậm ngùi. Niềm thương cảm cho dẫu có là bao nhiêu đi chăng nữa cũng không thể bù đắp được những nhọc nhằn, gian truân của đoạn đời đã qua và đoạn đời còn lại. Nhưng sức sống, sức chịu đựng, của những văn nghệ sĩ chân chính vẫn luôn luôn là những bất khuất nối tiếp của giống nòi, những áng thơ dòng nhạc luôn là những viên ngọc quý của văn học Việt Nam.

Đoàn Chuẩn sinh ngày 15-6 năm 1924, là một người được huởng nhiều nhân duyên và nhiều đãi ngộ. Gia đình ông giàu có, mà theo nhà văn Văn Quang: “Hồi đó ông có tiếng là công tử thành phố cảng. Một thành phố có hoa Phượng đỏ trên cao, có lá me bay vàng đường, và có những tàn lá bàng cho rợp những mái hiên, nhưng không có những hàng sấu như Hà Nội.

Gia đình Anh nổi tiếng hầu như khắp thành phố này không ai không biết tên. Hãng nước mắm Vạn Tân không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà là ở cả Đông Dương. Nhà Anh gồm bốn năm gian rộng trên đường vào chợ Sắt. Thỉnh thoảng có dịp đi qua trước cửa nhà Anh, tôi thường lén nhìn vào, cũng chẳng biết để làm gì… Ông có mối duyên tình hạnh phúc dài suốt cuộc đời và được trút hơi thở cuối cùng bên cạnh người bạn đời cùng tuổi đã sống với nhau từ ngày còn trẻ.

Đoàn Chuẩn là một nghệ sĩ có tấm lòng từ bi. Cuộc sống đầy đủ ấm êm không che khuất được tấm lòng nhân ái. ông đã gửi tình yêu của mình đến những cuộc đời khác, nhiều truân chuyên, cay đắng, ông chia xẻ đau thương, vuốt ve những lỡ làng dang dở …em ơi, có hoa nào không tàn, có trời nào không mây, có tình nào không phai.

Đoàn Chuẩn người tình chung thủy của mùa thu. ông đã khoác cho mùa Thu chiếc áo ân tình nồng ấm, ta quen nhau mùa Thu, chỉ có mùa Thu mới cất giữ những lá thư ngào ngạt hương, nét bút đa tình, ngập ngừng tình đầu… chờ nhau đến kiếp nào… Chỉ trong tiết Thu, tà áo xanh mới hương nồng ái ân, mùa Thu cho lá đổ muôn chiều, cho em ngồi trong thuyền hoa, cho anh đành quên…

Đoàn Chuẩn cũng là chứng tích của một tình yêu vĩnh cửu. ông đan tình yêu vào Tà áo xanh, vào Thu quyến rũ, ông gửi lời yêu theo gió cho mây ngàn bay, và là mẫu mực cửa những đằm thắm êm đềm muôn thuở.. Tôi không tin bất cứ bạo lực nào có thể giết chết được cảm nghĩ của con người. Hoặc có thể làm khô cạn tình nhân ái. Trong vòng kềm tỏa của chế độ, tưởng như giam giữ được tâm linh con người, Đoàn Chuẩn đã vượt thoát, đã chọn thái độ im lặng trong 31 năm để sống giữa giòng văn hóa nhân bản của dân tộc. Đoàn Chuẩn đã là con người tự do giữa ngục tù,  là một người tự trọng trước  những chà đạp nhân phẩm.

Đoàn Chuẩn đã là tình thân, là chất kết giữa bạn bè thân hữu và người cùng huyết thống. Đoàn Chuẩn đứng giữa đời với nhiều chân tình. Đất nước chia đôi, những chân tình ấy cũng chia đôi ngã. ở lại bên ông là người bạn đời gia đình và một số bạn bè, còn những đứa con tinh thần yêu quý đã theo đoàn người di cư vào Nam. Những giòng nhạc của Đoàn Chuẩn đã trở thành nỗi nhớ nhung, và là nhữngđãi ngộ đặc biệt trong đời sống của người dân miền Nam.

31 năm im lặng, ông giữ được tiết tháo của một nhạc sĩ tự do chân chính giữa những toan tính kềm kẹp, Đoàn Chuẩn đã không làm tổn thương chính tâm hồn mình và không làm hoen úa những mùa thu bất hủ. Chỉ có thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về… Chỉ có mùa thu gửi nhau phong thư ngào ngạt hương… Chỉ có mùa thu với xõa tóc thề hẹn lời ân ái… chứ không là gì khác!

31 năm im lặng, mong ngày hội ngộ gặp nhiều nhân duyên, ngày ông có cơ hội gặp lại đàn con tinh thần, cũng là lúc chúng chuyển bến lưu lạc xứ người. Nước mắt chảy xuôi, Đoàn Chuẩn lặn lội đi tìm đàn con xa xứ. Nước đi đi mãi cũng về cùng non. Đoàn Chuẩn đã hội ngộ từng giòng nhạc, từng mùa Thu dĩ vãng, còn gì hạnh phúc hơn khi được nghe giòng nhạc của mình sau mấy chục năm vẫn còn óng ả, mượt mà, vẫn được hát với niềm xúc động trân quý. Hôm nay, nghe nhạc của Đoàn chuẩn, viết về Đoàn Chuẩn mà cứ ngỡ ông đang ở đâu đó thật gần, tiếp tục ân cần chia xẻ những mảnh đời bất hạnh…

…Hôm nào em đến với Anh… xin đừng quên chiếc áo xanh… Em ơi, có hoa nào không tàn có tình nào không phai.. như màu xanh ái ân…

GIẢI TÚC CẦU THẾ GIỚI

NGÔ VĂN

Bài đăng trên Nguyệt san Hiệp Hội số 155, tháng 8/2006

GIẢI TÚC CẦU THẾ GIỚI

Ngôi làng tuy nhỏ nhưng nổi như cồn!

Nakatsue là một làng nhỏ cách To- kyo chừng 1.000 cây số về phía Tây nam, với một dân số trên dưới 3.000 người mà đa số dân làng tuổi đã trên 60. Không biết vì lý do gì mà cách đây gần một năm, chính quyền làng Nakatsue đã nộp đơn xin làm ứng viên bảo trợ cho bất kỳ một đội tuyển quốc gia nào đó muốn chọn Nakatsue làm bản doanh để tập dợt. Có lẽ vì phong cảnh hữu tình, rất lý tưởng cho việc tập dượt cũng như tĩnh dưỡng nên làng Nakatsue đã được Ban tổ chức giải Túc cầu Thế Giới 2002 chọn làm ứng viên. Đại diện Hội tuyển quốc gia Cameroon sau khi đi quan sát tình hình các nơi đã chọn làng Nakatsue làm bản doanh, và câu chuyện bắt đầu từ đó.

Vì Cameroon sử dụng tiếng Pháp mà cả làng Nakatsue chả ai biết một chữ  tiếng Tây nào nên chính quyền địa phương đã chiêu mộ các thầy dạy tiếng Pháp ở các nơi về mở lớp đàm thoại cấp tốc cho dân làng. Thôi thì suốt cả tháng người dân làng Nakatsue, từ già đến trẻ gặp nhau ngoài đường xổ toàn tiếng Tây búa xua, nhưng chỉ mấy tiếng căn bản là Bonjour, Bonsoir, Mercy beaucoup… mà đôi khi cũng lẫn lộn, gặp ban ngày đôi khi chào Bonsoir còn ban đêm lại chào thành Bonjour.., thôi thì loạn cả lên.

Theo dự định thì hội tuyển Camer­oon sẽ đến làng Nakatsue vào ngày 17 tháng 5. Tất cả mọi việc đều đã lên chương trình đâu vào đó, nơi ăn chỗ ở, sân bãi tập dượt đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, tuy nhiên vai chính là các tuyển thủ Cameroon đang còn ở tận trời Tây. Ủy ban Túc cầu Cameroon chính thức thông báo cho chính quyền làng Nakatsue biết vì máy bay bị trục trặc kỹ thuật nên chưa thể cất cánh. Hãng hàng không Cameroon đã lên tiếng cải chánh bảo rằng hãng chúng tôi làm ăn có uy tín, máy bay chả hề bị hư hỏng gì, có thể cất cánh bất cứ lúc nào.

Qua ngày hôm sau lại có tin cho biết: sở dĩ hội tuyển chưa lên đường được vì một vài tuyển thủ Cameroon chưa có chiếu khán vào Nhật, định liên lạc với sứ quán Nhật tại Paris để lấy Visa nhưng đúng vào ngày lễ của Tây nên mọi công sở đều nghỉ việc. Dân làng Nakatsue lên tiếng can thiệp ngay: cứ lên đường đến phi trường Nhật đi cả làng chúng tôi sẽ đứng ra làm bảo đảm xin chiếu khán cho. Sự thật thì chả phải máy bay bị trục trặc kỹ thuật, mà cũng chả phải là không có chiếu khán vào Nhật mà là các tuyển thủ đội tuyển Cameroon đang đình công để đòi chính quyền tăng thêm tiền thưởng. Cuối cùng chính quyền Cameroon đã cử Bộ trưởng Thanh Niên Thể Thao sang tận Paris, nơi hội tuyển Cameroon đang dừng chân, để giải quyết vấn đề và máy bay đã cất cánh khỏi Paris vào 8 giờ sáng ngày 22 tháng 5.

Sau 40 tiếng “bay vòng vòng” hội tuyển Cameroon đã đến làng Nakatsue vào 3 giờ sáng ngày 23, nhưng cũng đã có trên ba trăm dân làng cầm cờ đón rước. Trong lời chào mừng các vị khách quý, ôngThôn trưởng làng Nakatsue nói: “bây giờ trời củng đã gần sáng rồi, nhưng thôi cho tôi chào bằng tiếng Bonsoir”, sẵn dịp ông xổ thêm một câu tiếng Tây “Je m’appel Cameroon” (Tôi tên là Cameroon) khiến cho các tuyển thủ Cameroon mặc dù đang mệt nhưng vỗ tay cười khoái chí. Các ký giả hỏi ông Thôn trưởng sao trời gần sáng rồi mà ông lại thích chào bằng tiếng Bonsoir? Ông trả lời ngay: tại vì tiếng Bonsoir tôi phát âm dễ hơn tiếng Bonijour, chỉ đơn giản vậy thôi.

Việc trễ nãi của đội tuyển Camer­oon đã làm không những cho dân làng mà còn cho cả nước Nhật lên cơn sốt vì truyền thông báo chí Nhật cũng như ngoại quốc ùn ùn đổ tới làng Nakatsue làm phóng sự, không có ngày nào mà làng Nakatsue lại không được đưa lên truyền hình và báo chí, tự nhiên một làng nhỏ hẻo lánh trở nên nổi danh, không một người dân Nhật nào mà không biết đến. Về mặt hiệu quả kinh tế cũng rất khá, cả làng chỉ có một lữ quán chừng mấy phòng, không thể nào giải quyết nổi cho đạo quân ký giả trên mấy trăm người đến thu tin, về phương tiện di chuyển chỉ có hai chiếc taxi hàng ngày chở vài người khách chạy quanh quẩn trong làng nay được dịp sử dụng suốt ngày đêm chở toàn ký giả. Các tay bình luận kinh tế sau một lúc tính toán rồi phán rằng nếu bỏ một ngân sách ra để quảng cáo trên truyền hình vào những giờ cao điểm (chưa kể trên báo chí và radio) để cho toàn dân Nhật biết đến tên tuổi như làng Nakatsue thì ít ra cũng phải mất gần 10 triệu Mỹ kim, trong khi đó ngân quỹ bảo trợ mà làng Nakatsue chi ra chỉ độ 850 ngàn đô. Thế thì còn quá lời. Dù có bị trễ vài ngày, nhưng mối giao tình giữa đội Cameroon và dân làng đã thắm thiết hơn bao giờ hết và ngày chia tay để đội Cameroon lên đường đến tỉnh khác để chuẩn bị cho các trận đấu đã diễn ra trong ngập tràn nước mắt.

CHUYỆN PHIẾM ĐẦU XUÂN

Y YÊN

Bài đăng trên Nguyệt san Hiệp Hội số 78 tháng 2/1997

CHUYỆN PHIẾM ĐẦU XUÂN

Cái hồi được tàu Mỹ 5 bồn vớt lên sau hơn 1/2 tháng dập dềnh thả trôi cho sóng gió bão bùng nó quật lên quật xuống mà không “hai năm mươi” không đi chầu… Đông Hải Long Vương vì trời còn thương. Leo lên boong tàu Mỹ, tôi thấy cái gì của Mỹ cũng… thơm, cũng sáng loáng, to bự lạ lùng. Ba ông Mỹ trên tàu thân xác bự dềnh dàng chớ không mang tướng ốm đói như “thằng Mỹ” trong phim “Mối Tình Đầu”, một thằng Tây lai vớ vẩn mà Việt cộng moi ở đầu đường xó chợ nào ra cho đóng vai “Xịa”. Tuy nhiên, tôi còn nhớ “quần chúng ta”, những người dân mất nước, những kẻ bị đì, bị bỏ rơi lại địa ngục; lúc ấy khoái thằng Mỹ này lắm. Tại sao vậy? Thứ nhất, tướng gã không giống Mỹ thiệt nên ai cũng hiểu là loại phim tuyên truyền ba xạo. Thứ hai, người ta thích câu nói lơ lớ bằng tiếng “Beto” của gã: “Tôi eu con gai Viet nam lăm lăm” (Tôi yêu con gái Việt Nam lắm lắm!). Rõ ràng, điểm này rất tốt “thật thà khai báo”, đàn bà con gái nước Việt đẹp xinh như thế, ngoại quốc nào lại chẳng mê? Nhấp nháy chỉ trong vòng chục năm, nhờ ơn bác và đảng tận tình chăm sóc, dạy dỗ theo đường lối “bần cùng hóa nhân dân”, con cháu bà Âu Cơ, Bà Trưng, Bà Triệu trông tướng… bần hàn lam lũ hẳn đi. Đó chính là lúc mà lời bài ca “cô gái vót chông” nhai nhải trên các loa phóng thanh biến thành nhạc “dân chế”:

“Như bao cô gái ở Phan Rang
Cô gái Nha Trang ngồi bán bắp rang…”

và cũng chính là lúc một người thơ cám cảnh:

“Đời vô sản còn gì thương với nhớ
Chân tay em như… cây củi bằng lăng!”

Khi tàu Mỹ cặp bến Phù Tang đặng trút mớ dầu khí từ cái bụng khổng lồ của nó vào các ống dẫn dầu vĩ đại, 4 – 5 ông Nhật thuộc Sở nhập quốc bước lên tàu với một thông dịch viên người Việt. Lần đầu tiên tôi được nhìn thấy “Nihonjin” bằng xương bằng thịt chứ không phải bằng hình ảnh như nhìn thằng… “Sơn Điền Bảo Chiêu” trong phim võ hiệp. Nihonjin mặt mũi cực kỳ trịnh trọng, thoạt vừa nhác thấy, tôi cứ ngỡ họ bị mắc chứng… táo bón kinh niên. Họ chào nhau trông nghiêm chỉnh đến phát ớn: gập cả nửa thân trên, mồm thì hô hoán những lời gì rất ngắn, khô khan “lô cô lốc cốc” (giờ thì tôi hiểu đó là từ “Domo, domo”). Tôi thầm nghĩ, lối chào như họ dễ bị đau lưng, đau cột sống lắm. Được phép lên bờ, bọn tôi bước vào chiếc xe bus chạy ngày chạy đêm, băng qua nhiều núi đèo, nhiềuthành phố lớn đèn rực sáng như sao đêm. Phong cảnh xứ này quá đẹp, nhiều nơi như cảnh tiên, tôi cho rằng vậy, bởi tôi nhớ tới lời 1 bài hát nói về chốn quê nghèo: “Quê hương tôi, đất cày lên sỏi đá…” Nhắc đến hát hò, tôi bỗng buồn cười khi hồi tưởng lại “bài học đầu tiên” về những người bình dân Nhật.

Số là, trên xe bus, bác tài vui tính có yêu cầu bọn tôi văn nghệ văn gừng cho vui, cho tỉnh người vì đường về “trại… tạm giam Omura” còn rất xa xôi. Bác ta mở đầu chương trình bằng 1 bãi, toàn những …lê cô lốc cốc, nhưng nghe cũng đỡ nhạt nhờ có nhạc máy đệm kèm (sau này, tôi mới rõ đó là …karaoke). Mi cờ rô chuyển đến tay tôi, tôi làm ngay 1 bản lời Mỹ “Pround Mary” thiệt giựt gân đặng … hù Nhật chơi. Chẳng có gã Nhật nào ngồi trên xe chịu vỗ tay khi tôi hát xong, tôi đã tính… chửi rủa (bằng tiếng bêto, dĩ nhiên); bạn nghĩ coi: tôi hát đâu có … dở, trên tàu Mỹ, tôi chơi mấy bản cho Mỹ đen nghe, họ khoái quá chừng. Nhưng tôi sì tốp kịp lúc nhận thấy bác tài xế ư ử đệm nhịp theo ba bài ca Chế Linh, Giang Tử mà mấy tay thanh niên cùng nhóm tôi đang tranh nhau trình bày: “Trên 4 vùng chiến thuật”, “Sương trắng miền quê ngoại”, “Căn nhà màu tím”, “Căn nhà ngoại ô” … (nghe na ná như loại enka (diễn ca) của Nhật nên họ rất thích).

Ở… tù Omura 3 tháng 10 ngày, giã từ chí rận này nọ xong, tôi được ông phó văn phòng dẫn ra phi trường Nagasaki. Tôi, 1 cựu tài tử …xô xích le bỗng dưng được hưởng cái thú đi mây về gió, 1 cái thú không cần xử dụng đến cặp giò xương xẩu. Ngồi bảnh tỏn trong lòng ghế êm ái của chiếc phản lực cơ, tay lật tờ tạp chí mà cô nàng tiếp viên xinh lịch, giọng êm ái như bông gòn vừa đưa mời (nể… nàng tôi mới cầm đó bạn). Vừa giở được vài trang, tôi té ngửa: Trời ơi, sách họ in ngược từ dằng sau ra đằng trước, hèn gì đọc vô, tôi… chẳng hiểu cái mô tê gì hết! Mắt hoa lên vì mớ chữ bùa, tôi quăng tờ tạp chí vô cái… thùng rác bên cạnh (tôi bắt chước theo tác phong của thằng cha Nhật đeo kính ngồi ở băng trước đấy bạn, thấy tôi… hội nhập mau lẹ ghê chưa); đưa mắt qua tấm cửa kính tròn, ngắm mây trời trắng nõn lướt thướt bay… về trại tạm trú thuộc Caritas một thời gian, tôi xin đi làm bởi lẽ: “Đời không có xu đời chán bỏ bu như là đi tu”; tôi nghiệm ra rằng con người ta sống ở cõi Phù Tang phải lao động vinh quang mới có… bia, có thuốc, có tiền mua máy cát sét nghe để quên đi thân phận người tị nạn buồn và đủ điều kiện để “ra riêng”, sống 1 cuộc đời “tự do, độc lập”, không lệ thuộc cảnh ăn nhờ ở đậu.

Tôi đi làm vào dịp cận Tết Nhật, tháng 12 tây, tháng “thầy chạy”. 6h45 sáng tôi đạp xe đạp ra ga, đường sá đóng lớp băng mỏng buổi rạng đông làm tôi – 1 tay đạp xe xích lô lành nghề – cũng xém té mấy lần. Gởi xe đạp xong, tôi lên tàu ngồi chờ, tàu điện chạy tới ga gần hãng vào 7.50 phút. Tôi chỉ có 10 phút để… phi thân ra khỏi nhà ga, tay ôm hộp cơm trưa (cơm hãng tôi nuốt không trôi, món gì người Nhật cũng bỏ thêm đường, thứ tôi không ăn) chạy hộc tốc băng qua 2 ngã 4 đèn xanh đỏ, băng qua 1 công viên có vòi phun nước, có ghế đá, có chim bồ câu.

Quanh tôi, những cô công nhân áo xanh cũng đang giở thuật “lăng ba vi bộ”. Những ngày đầu, chạy được nửa quãng đường thì ruột tôi đau quắn lại nên tôi bèn chẳng thèm chạy nửa, tôi ngồi xuống ghế đá công viên nghỉ lấy lại sức cỡ… gần 1 tiếng. Đến 9 giờ kém 15, tôi tà tà cuốc bộ vào hãng bấm thẻ, chịu đi trễ 1 tiếng, khỏi lãnh tiền “kaikin” (tiền thưởng nếu đi làm siêng năng đủ ngày, đủ giờ). Có hôm trời tuyết, hay trời mưa, thức giấc buổi sáng theo tiếng réo của cái đồng hồ báo thức, ngó ra ngoài cửa sổ kính, tôi thở dài não ruột, chửi rủa cái kiếp cu ly một chặng rồi cũng phải khoác áo mưa, lao mình ra khỏi căn phòng apatồ ấm áp để đóng nốt cuốn phim “Người đi trong mưa gió”.

Mười mấy năm trôi qua; bạn ơi, giờ đây tôi còn chạy nhanh hơn cả Nihonjin nữa! Tôi cỡi xe chạy rật rật như bị ma đuổi trên đường tới sở làm, tôi phóng ào ào vào siêu thị mua vội con tép con tôm về nấu canh sau giờ làm thêm buổi tối. Thế nhưng, tôi vẫn cảm thấy rằng, dẫu có chạy vội, chạy nhanh đến cỡ nào đi nữa thì mùa Xuân vẫn phóng vù vù qua mặt. Vâng, mùa Xuân, tuổi Xuân, tuổi trẻ qua đi mau lắm. Chỉ chạy lòng vòng quanh cái xã hội nhốn nháo này ít năm, tóc tôi đã muốn bạc trắng cả rồi; xấp xỉ tứ tuần, tôi “thấm” câu nói của người xưa:” Mỗi năm một tuổi như đuổi xuân đi”. Này bạn ơi, xin hãy chấp nhận tuổi trời cho, “thấm lẽ vô thường, thấm luật tự nhiên để rồi vui sống, để rồi… trẻ mãi không già nhé:

“Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc di mãi
Trên đầu già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai”

(Cáo tật thị chúng – Mãn Giác thiền sư)

THƠ BẮC PHONG QUA “CHÍNH CA”

NGÔ THỊ HÀ

Phụ Trang Á Châu, số 59 tháng 1/1987

THƠ BẮC PHONG QUA “CHÍNH CA”

Bìa tập thơ Chính Ca của tác giả Bắc Phong

Rừng thâm Chí Linh về tụ nghĩa
Lê Lợi mười năm vẫn bền gan
Áo nâu lẫn với màu nâu đất
Kháng Chiến vì dân chống bạo tàn

Bắc Phong, nhà thơ kháng chiến nhận định có vẻ mới lạ này đã được Chính Ca chứng minh hùng hồn. Mặc dù từ gần mười năm nay, đều đặn trên khắp các diễn đàn báo chí hải ngoại, thơ Bắc Phong luôn luôn là một tiết mục văn nghệ nóng hổi, nuôi dưỡng tinh thần đấu tranh của đồng bào. Thế nhưng, phải đợi đến khi Mặt Trận ra đời cùng với từng thành quả lịch sử của Kháng Chiến Việt Nam, thơ Bắc Phong mói có được những ý cảm toàn bích để nâng cao phẩm cách của tác giả lên một giá trị mới theo 1 tinh thần mới: tinh thân của một Kháng Chiến Quân.

Bên cạnh mục đích giới thiệu Chính Ca đến bạn đọc, bài viết hôm nay trong tình chiến hữu ruột thịt còn là sự chia sẻ với Bắc Phong tấm lòng cao quý của người nghệ sĩ yêu nước, thương dân trước một quê hương đang “trăn trở hồi sinh”.

Trước tiên Bắc Phong tình nguyện là một nhân chứng. Anh đã sống và viết những tác phẩm đầu tay bằng một ký ức cháy bỏng về địa ngục trần gian mà chính anh và những người thân yêu đã bị đọa đày. Thơ anh không phải là những hoài niệm của xúc cảm mông mênh hay xỏ xiên châm biếm, nó là lời khai đanh thép bằng những mắt đỏ trưng, bằng giác quan tinh tế:

Ôi trang giấy bao giờ chảy máu
Lời khai tôi tận khổ Việt Nam

Trang giấy của Bắc Phong bật lên hình ảnh quê hương đang tan nát điêu linh dưới nền đô hộ độc ác của quyền đã cam tâm bán đứng đất nước cho đế-quốc Nga xô:

Việt Nam một mảnh cơ đồ
Biến thành châu huyện bọn Xô Viết rồi

Tại nơi mà “nhà tù khắp nẻo giang sơn” con người phải làm thân trâu ngựa, bón xương tưới máu dưới vũng lầy vô sản để xây đắp thiên đường không tưởng, thơ Bắc Phong đã được viết ra từ những mánh đời gầy hao, đớn đau, quằn quại nhưng không hề rên la hèn yếu. Nước mắt dù rơi mà:

là thương nhớ đọng thành
làm thăng hoa lòng chung thủy

của những người vợ, người tình khóc trước chồng anh tàn tạ ở chốn lao tù, của những mẹ già cắn răng rấm rứt khi nhận tin con đã chết từ lâu:

Ôi những giọt lệ già nua
lăn trên má da mồi
có thể làm chảy thép
nơi gông cùm chủ nghĩa tanh hôi

Giữa “cơn đau dân tộc còn đang hoại hành” đó, người chứng đầu tiên Bắc Phong đã chọn sự ở lại để san sẻ vui buồn cùng tha nhân, ghi chép tất cả thảm trạng xã hội khốn cùng và gói ghém hòai bão củ mình vào thi ca, như là sự cứu rỗi sau cùng cho lương tâm bị câm nín vì khủng bố đàn áp của bạo quyền.

Ta khai em nức nở nghe
Dù sao cũng vẫn chọn quê hương này.

Hơn ai hết, chúng ta hiểu rõ thân phận của những kẻ sĩ ở lại, bị đe dọa rình rập đêm ngày với đủ thứ hành hạ nhất là về mặt tinh thần. Nhà thơ đã nhìn nhận sự bất lực của mình:

Anh đã không đủ can đảm tự tử
Nên phải sống như một trí thức côn trùng
Đã không biết xưng danh cho sự nghiệp chung
Đưa dân tộc mình đi về hố thẳm

Lúc đó những nỗ lực tuyên vận của ta hãy còn non yếu, tiếng nói chính nghĩa của Mặt Trận đã bị bạo quyền ra sức bưng bít, lung lạc. Trong tình thế tưởng chừng tuyệt vọng và cô lập đó, để tìm lấy một môi trường tranh đấu thích hợp và hữu hiệu hơn, Bắc Phong đã quyết định ra đi. Thân xác anh phải lưu vong nhưng tâm hồn nhà thơ thì “mưa nguồn gió biển” vẫn trở về từng phút từng giây:

Thơ tôi hẹn với non sông
Ngày tình thương lấp hố hận thù sâu
Bình minh ngước mắt lên cao
Tôi mơ thấy cánh bồ câu ngợp trời

Thơ hẹn với non sông ngày trở lại, thơ vì 60 triệu đồng bào ruột thịt đang tân toan khổ nhục mà không ngừng lên tiếng đánh động lương tâm con người, thơ là những nhắc nhở không nguôi:

Nhưng tôi buồn vì đã không nói hết thương đau
Và nếu những lời khai tôi có người nghe đã cũ
Tôi vẫn nói hoài cho nhập óc nhập tim

Thơ có “một nghìn đêm thức trắng” để “lòng ngất đắng thêm nhục mất quê hương”, thơ phơi trải chân thành mọi biến động của đời sống nội tâm trong những tháng năm tị nạn đầu tiên loay hoay quanh quẩn:

Tháng Tù nhục thân phận lưu vong
Nhục ta chưa trả nợ non sông
Mời ai qua cửa người cùng xứ
Vào tát giùm lên mặt trầm ngâm

Nhữg tháng năm mà trong một vài ý thơ u uẩn muộn phiền, ta hiểu nỗi ray rứt sâu kín của Bắc Phong khi chưa có được nguồn cảm hứng đích thực đã khai thông mở lối cho hồn thơ đang khắc khoải vì những thất chí lỡ cơ còn ám ảnh:

Đây là ta nhớn nhác tìm mình
Ngủ biên người mộng rất chênh vênh
Con quốc vẫn tưng bừng nhớ nước
Nên còn ngồi thơ thẩn nói quanh

Điều đáng khâm phục là tiếng thơ anh từ những dằn vặt của thân thế dở dang, những buồn bã với cuộc đời lưu lạc vẫn kiên trì đi lên và hướng vọng về đất nước không ngừng. Chém vào thơ để giết đi mọi ý thức thê thiết bi lụy, Bắc Phong đã dành cho tổ quốc suy tư cao đẹp nhất của một người dân bình thường trước cơn quốc biến, anh nhắn nhủ với thơ anh:

Thơ chỉ làm hồng nhan luống cuống
Xương thịt này người nợ những ai
Non sông nghiêng ngửa lọan
Sao cứ mơ hoài làm mây bay

Không màng chi bóng dáng hồng nhan, gió trăng lãng mạn thơ mới dậy sáng, cũng chẳng cần “thích trán mình hai chữ bút hoa…để biện bác vai trò kẻ sĩ”.

Bắc Phong nhìn thẳng vào thực tại nóng hổi của đất nước để thai nghén bầu thơ Chính khí. Cùng với tòan thể dân tộc đấu tranh dưới bóng cờ đại nghĩa của Mặt Trận đã giương cao, thơ Bắc Phong đã dào dạt chuyển mình. Qua rồi những “đêm mưa ngồi uống rượu… giận mình muốn móc ruột moi gan”, bây giờ phẫn nộ đã nhập giòng, hồn thơ Cách Mạng đã khai sáng mọi bế tắc, lầm than ngày xua. “Bút bén hơi gươm”, thơ thành khí giới khi Bắc Phong viết: “Trận giặc này ai cũng là chiến sĩ”.

 Anh trở thành người chiến sĩ điển hình cho một quan niệm chiến lược kiện toàn nhất trong lịch sử nghìn năm đánh giặc của cha ông: TOÀN DÂN KHÁNG CHIÊN, TOÀN DIỆN ĐẤU TRANH. Điển hình là ở chỗ anh là một nhà thơ nhưng cầm bút như một chiến sĩ, thi ca anh sáng tác ở ngoài nưóc nhưng đã được tất cả đồng bào, kháng chiến quân trong nước mong chờ để đón đọc, để phổ biến. Vượt qua những cách trở gò bó của hoàn cảnh sáng tác trước mắt để thể nhập đồng điệu tâm hồn mình vào đại cuộc đấu tranh giải phóng, điểm điển hình này cũng là chỗ độc đáo của thơ ca Bắc Phong vậy.

Đọc thơ anh, ta cảm nhận được tất cả tâm tình của người đi tranh đấu có niềm tin vững chắc vào hồn thiêng sông núi, có tình yêu son sắt với Tổ Quốc, có gia đình làm hành trang dấn bước:

Đi theo tiếng gọi non sông
Tôi nghe từ mặt trống đồng đánh lên
Đi hành trang có niềm tin
Quyển thơ Nguyễn Trãi và hình vợ con.

Trên đường Đông Tiến gian nguy “qua truông… qua núi” để khai mở lối về đất mẹ, chân phải băng qua lửa đạn mà lòng thì xúc động trước ý chí bất khuất của người dân mặc dầu bị đọa đày khổ cực vẫn bám chắc quê hương, anh lĩnh hội trọn vẹn sức mạnh dân tộc, sức mạnh triều dâng vũ bão của lòng dân khi vùng lên cách mạng:

Đã gang thép tâm tình đi kháng chiến
Dẫu đường đi đầy mìn bẫy hầm chông
Khi lòng dân là triều dâng vũ bão
Sẽ bứt được xiềng sẽ phá được gông.

Lại nhớ đến lời Cương Lĩnh năm nào đã dội vang giữa núi rừng khu chiến “lấy sức mạnh dân tộc làm căn bản, lấy đại đoàn kết toàn dân làm vũ khí”, khi lý giải được tầm mức quan trọng của sức mạnh đoàn kết trong đấu tranh giải phóng, anh phổ vào tác phẩm mình những ý thơ khơi dậy niềm tự hào dân tộc, những ý thơ mà trong bất cứ tình cảnh nào được ngâm lên, hễ còn là người Việt Nam ai cũng thấy gần nhau hơn, yêu nhau hơn từ ý thức có chung một cội nguồn lịch sử và những chiến công hiển hách của cha ông:

Gặp nhau từ phá núi khai sông
Từ gọi nhau chim Lạc, chim Hồng
Từ nhuộm răng, ăn trầu, búi tóc
Từ ngực xâm hình con giao long
Gặp nhau từ khởi nghĩa Mê Linh
Đứa giữ voi trận, đứa tiền binh
Cùng đứng trên bờ ôm nhau khóc
Khi Nhị Trưng sông Hát trầm mình…

Bài thơ như lời diễn ca kể lại thăng trầm của lịch sử trong đó chan chứa tình nghĩa gắn bó của những người nguyện chết bên nhau để giữ thơm đất mẹ. Khi làm thơ diễn sử, Bắc Phong không dừng lại ở xúc cảm hoài cổ chỉ để gợi trong lòng người đọc những buồn nhớ bâng khuâng cho vàng son đã mất. Rất nhiều nhà thơ trước cảnh vật đổi sao dời bởi chuyển dịch của thời gian đã không khỏi ngậm ngùi cho lẽ phế hưng rồi từ đó sinh ra ý nghĩ chối bỏ, tiêu cực với cuộc đời hiện tại. Bắc Phong cũng không nhìn lịch sử ở những hào nhoáng phù phiếm của cung vàng điện ngọc hay giai nhân mỹ tửu. Sử quan trong thơ ca của anh trung thực và gần gũi với tâm tình của tầng lớp nông dân yêu nước đương thời. Tình yêu đất nước, trực giác mẫn cảm và trí tưởng tượng phong phú của một nhà thơ cho phép Bắc Phong phác họa lại một cách sống động những chiến thắng lịch sử lẫy lừng dưới sự lãnh đạo của các anh hùng dân tộc. Ca ngợi công đức của tiền nhân để nhắc nhở người sau bổn phận đối với tổ quốc đang trong cảnh bại vong, sử ca Bắc Phong mang quyết tâm cao độ của người đi đấu tranh tiêu diệt quân thù, hàn gắn lại trang sử dở dang, nhầu nát bởi loài giặc đỏ:

Ôi còn đâu gươm Đại Định
để tang chém phăng đầu giặc đỏ
Bài cáo Bình Ngô
Tưởng chừng còn chép dở chưa xong
Đêm nay ta chích máu viết những dòng run rẩy
gởi về xưa nơi tụ nghĩa Lam Sơn

Thơ Bắc Phong như đã trình bày ở trên là “thao thức tâm hồn kẻ sĩ” rồi “nhập giòng phẫn nộ” để “gang thép tinh thần đi kháng chiến”, trong suốt chiều dài của tiếng thơ húng tráng đó đã ngập tràn chất thép. Tuy nhiên, cũng như chúng ta Bắc Phong không sinh ra là đã biết đấu tranh khiến thơ mình phải bỏng rát với súng gươm lửa đạn, chỉ vì muốn giành lại non sông, cứu lấy đồng bào mà chất thép trong thơ kia đã được hình thành, tôi luyện. Chúng ta vẫn thường nói “trong đấu tranh có những cái rất người” thì ở thơ ca Bắc Phong cái “rất người” đó lấp lánh tràn trề, được thể hiện rõ nét qua tình yêu Tổ Quốc, đồng bào, lòng tri ân đối với quê hương lịch sử và trong sáng thay: trên từng “bước kháng chiến lời thơ vẫn nhẹ” người nghệ sỹ tay viết tay súng trong giây phút chạnh niềm lưu luyến đã nhẹ nhàng gửi vào thơ chút lòng lâng lâng mơ mộng. Cuộc đời chiến đấu bỗng thêm đầy thi vị và ước mơ thanh bình như được đem lại gần hơn qua những ý thơ trữ tình này:

Có mấy bữa giặc lùng tiêu diệt
Đụng trận xong tim thép lại mềm
Hũ rượu cần uống mừng chiến thắng
mơ em ngồi cắn mảnh trăng đêm.

Từ mấy chục năm qua Việt cộng đã khước bỏ tất cả lãng mạn phải có của một con người đúng nghĩa để làm ra nền văn nghệ xuẩn động một chiều hầu phục vụ cho đường lối thống trị sắt máu. Thơ Bắc Phong với những cái “rất người” kể trên đã phản ảnh được tinh thần nhân bản lúc nào cũng bàng bạc trong cuộc đấu tranh coi sức mạnh con tim quan trọng hơn nòng súng hôm nay. Hãy đọc “Bài lục bát Hoa Cau” sau đây để thấy được trong tấm lòng son sắt của cô gái quê chèo xuồng chở đạn tiếp vận kháng chiến, tình yêu quê hương, con người và đấu tranh đã quyện lấy nhau tạo thành hình tượng nghệ thuật rất ca dao mà cũng rất thời đại: thời đại của KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM.

Nước dâng đỏ nước phù sa
Tình dâng ánh mắt như là ánh trăng
Cau mang cho người bẹ măng
Măng kia có ngọt cho bằng tình Cau
Xuồng trôi qua khúc giang đầu
và trăng cũng vẫn bơi sau theo xuồng
Cau mơ giải phóng quê hương
Mũi xuồng Cau lại cắm vuông cờ vàng.

Bắc Phong thật xứng đáng là nhà thơ Kháng Chiến với tiếng thơ toàn bích của thời đại này. Ngày xưa khi chống chọi với thiên tai, đánh đuổi ngoại xâm, cha ông ta đánh trống đồng vừa để biểu dương khí thế dân tộc, thôi thúc tinh thần chiến đấu cũng như tạo dựng giềng mối đoàn kết trong dân chúng. Thơ Bắc Phong hôm nay chắc hẳn là một tiếp nối kỳ diệu của âm vang hào hùng đó.

Cách đây ba năm, khi đài Việt Nam Kháng Chiến cất tiếng giữa không trung Việt Nam, bằng nỗi vui mừng rơi lệ của toàn dân, Bắc Phong đã viết:

Phải tôi đã được nghe
trên một làn sóng ngắn
tiếng gió tung cờ chính nghĩa
tiếng núi chuyển
tiếng sông gầm
tiếng mưa chan hòa nước mắt trong
của dân tôi đã khóc vì mừng

Đến nay Đài ta đã tròn ba tuổi, thơ anh với cảm xúc bừng bừng của tôi ngày nào khi đọc những dòng:

Phải tôi đã được nghe
Tiếng nói Đài Kháng Chiến
Đã thấy mình nóng ruột
muốn đem thân nhập cuộc đấu tranh
cho một ngày tổng khởi nghĩa của toàn dân

vẫn còn đây, vẫn vẹn nguyên trong lòng. Xiết chặt tay anh và xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc tập thơ Chính Ca của Bắc Phong đã được cơ sở Đông Tiến xuất bản.