MÚA NÓN QUAI THAO

NGUYỄN HỮU NGỌC

Bài viết đăng trên Phụ trang Á Châu số 81 – tháng 11/1988

MÚA NÓN QUAI THAO

Em không nghe mùa thu
Lá thu rơi xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng rơi
(Thơ Lưu Trọng Lư)

8/10

Đoàn xe buýt chạy êm, tốc độ vừa phải, cố gắng nuốt từng chặng đường dài của lộ trinh Tokyo – Nara để đưa những người trẻ thuộc nhiều quốc gia trên thế giới đến địa điểm trình diễn. Hôm ấy trời âm u, gió thổi mạnh khiến mây đen trên trời lồng lộn như con mãnh thú bị thương đang cố gắng vùng lên giành giật lại sự sống. Tin khí tượng tối hôm qua cho biết cơn bão số 24 đang tiến dần về vùng biển phía Nam Nhật Bản. Có lẽ đây là cơn bão cuối cùng của mùa bão năm nay. Dầu sao, là những người dang di chuyển về nơi gió bão, cơn bão này đã làm phiền chúng tôi không ít.

“Bên phải của quý vị là ngọn núi Phú Sĩ. Đây là một trong những tượng trung của dân tộc Nhật…”. Giọng nói của người hướng dẫn viên trong xe qua loa phóng thanh khiến gần 60 chiếc đầu chúng tôi quay về một phía. Chẳng thấy gì ngoài lớp mây mù giăng mắc, chúng tôi tiếp tục ồn ào bởi những nghi thức thông thường của một tập thể mới biết nhau, đó là tự giới thiệu tên, tuổi của mình, quốc gia cũng như thời gian ở Nhật. Đủ mọi quốc tịch có mặt trên chuyến xe: Mã Lai, Nam Dương, Việt Nam v.v… Về phía Việt Nam, thành phần gồm có 8 người: sáu cô thuộc đội múa Tokyo Phương Dung, Minh Phượng, Lệ Xuân, Kim Yến, Thanh Tâm, Phương Tâm; tôi và một người nữa trong trách vụ hướng dẫn. Đúng ra, chương trình còn được dự trù còn có sự đóng góp của ba đóa Hoàng Lan Kan-sai; đó là ba cháu Hồng Ân, Tường Vân, Khánh Ngọc, nhưng vì có quá nhiều quốc gia ghi tên tham dự, cùng nhiều trục trặc về phía Ban Tổ Chức nên cuối cùng, chúng tôi đành mất đi một dịp để Kanto-Kaisai hội ngộ. Thật là đáng tiếc, chúng tôi đành hẹn cùng ba cháu Ân-Vân-Ngọc một dịp gặp gỡ khác.

Nhận lời mời của Hội Du Học Sinh Quốc Tế, chúng tôi tới tham gia lần này với tư cách là các du học sinh; nhưng trên thực tế, người nhỏ tuổi nhất trong ban vũ là là một thiếu nữ, cô đã có mặt ở Nhật một khoảng thời gian gần gấp đôi thời gian cần thiết để hoàn thành chương trình của một bậc đại học.

Tiếng ồn ào trong xe cứ kéo dài mãi, tôi mơ màng nhìn ra bầu trời mây vẫn vũ bên ngoài khi mọi người đang bắt qua một chương trình sinh hoạt mới; đó là hát nhạc Karaoke. Lần đầu tiên được đi Narra, quê hương của loài nai, tượng Đại Phật, với mùa thu Momiji đỏ ối; tôi mang tâm trạng thật bình thản vì đâu cũng không phải quê hương mình. Đôi khi còn cảm thấy khó chịu vì chiếc xe chạy chậm quá so với những chiếc du lịch hay vận tải khác. Cứ điệu này, đến được Nara chắc tối!

  Buổi chiều, sau khi qua khỏi thành phố Nara được một đoạn, đoàn xe bắt đầu rời khỏi xa lộ cao tốc đê đi vào đường quốc lộ. Cảnh vật hai bên dường dưới ánh hoàng hôn có phủ một chút sương mù trông thật huyền ảo. Sinh hoạt trong xe lắng xuống không biết từ lúc nào. Sự mệt mỏi khiến mọi người đều nôn nóng mong mau đến địa điểm nghỉ lưng. Vậy mà, cũng phải mất mấy tiếng đồng hồ nữa, gần 11 giờ khuya chúng tôi mới lục tục chuyển đồ đạc vào một lữ quán dành cho học sinh, tọa lạc trên một khu đất cao của thành phố Nara cổ kính.

Đêm hôm ấy, sau chặng đường dài, tôi ngủ một giấc say sưa mặc dù trong phòng vẫn có người ra, kẻ vào và bên ngoài hành lang tiếng bước chân đi cứ nổi lên rầm rập. Được đi kiểu này vậy mà sướng, giá đừng mắc phải gần mười tiếng đồng hồ ngồi xe, tôi đã coi đây là dịp nghỉ xả hơi của mình. Tôi biết, khi tôi đi vào giấc ngủ, ở lầu trên nơi dành riêng cho phái nữ, các cô gái Việt Nam vẫn còn đang ủi quần áo, cũng như kiểm điểm lại từng bước chân đi, để chuẩn bị ngày mai bước lên sân khấu. Chúng tôi được cho biết là sân khấu rất lớn, loại lộ thiên, được xây dựng bên trong khu hội chợ Silk Road (Con Đường Tơ). Hội chợ quy tụ nhiều gian hàng của nhiều quốc gia cũng như quy tụ nhiều gian hàng xí nghiệp của Nhật Bản.

9/10

Sáng hôm sau, khi dừng chân tại nhà ăn lữ quán trong tiếng ồn ào muôn thủa, chúng tôi lại tất tả di chuyển đồ đạc lên xe buýt để đến địa điểm hội chợ. Trên đường đi, người hướng dẫn viên luôn miệng giới thiệu đến chúng tôi những di tích của Nara ở hai bên đường, lịch sử của tượng Đại Phật, phong tục cắt sừng nai, những câu chuyện thần thoại về thành phố Nara cổ. Quả thật, Nara rất đẹp. Sắc thái cổ kính còn bàng bạc khắp nơi dù đó đây, nhiều tòa nhà tân thời đã mọc lên san sát. Xe rẽ vào vùng công viên rộng lớn, ở đó chúng tôi bắt đầu thấy những chú nai đứng bình yên bên cạnh con người, ngỏn nghẻn ăn từng chiếc bánh đa nhỏ. Người từng đến đây rồi không nói làm gì, còn người mới đến lần đầu đều ngạc nhiên, chỉ trỏ đàn nai, la lối ầm ĩ. Phải nói, lúc đầu tôi cũng thấy thích thú, nhưng sau vài phút, tôi bình thản trở lại bởi lẽ đàn nai Nara thiếu sừng trông như người thiếu tóc và nai Nara lại quá dạn dĩ nên không còn vẻ ngơ ngác, ngây thơ như những chú nai trong bốn câu thơ bất hủ của Lưu Trọng Lư nữa.

Chạy một lát, xe buýt đưa chúng tôi vào khu vực hội chợ. Ở nơi đây nhiều mái lều to lớn vươn lên khỏi lùm cây, trông như cách cấu trúc của Ấn Độ. Tại một mái lều mang tên Big-pao; chúng tôi tập trung lại chờ nghe Ban Tổ Chức thông báo về thời gian cũng như thứ tự của từng quốc gia sẽ lên biểu diễn. Sau đó, khi các diễn viên đã đi về phòng trang điểm để chuẩn bị y phục thì bên ngoài, toán thiết bị âm thanh, ánh sáng cũng bắt đầu vào làm việc. Không mang một trách nhiệm rõ rệt nào, tôi đi rảo chung quanh hội trường dưới con nắng ban mai nhìn ngắm từng đoàn du khách đang tấp nập kéo vào khu vực hội chợ với tâm trạng thèm muốn. Người Nhật hạnh phúc quá. Những du khách Tây phương cũng vậy. Chẳng thấy ai mang chút ưu tư nào trên khuôn mặt. Nhất là mấy đứa trẻ nhỏ, chúng chạy tung tăng theo bước chân người lớn với đồ chơi, bánh kẹo trên tay như đang được sống trong thế giới thần thoại. Đi một lát thấy chán, tôi quay trở về hội trường. Ở đây, một người đang cầm micro để điều khiển buổi tổng đợt. Thời gian quá gấp rút, tôi thấy anh chàng cầm micro mặt nhăn la như quạ.

Mười một giờ sáng, một rừng người đã chen vai thích cánh ngồi trên những chiếc bục hình cánh cung vây quanh là chiếc sân khấu thật rộng. Bên ngoài, cảnh bị đã dang rộng hai tay để ngăn cản nhiều người khác đang muốn tìm đường vào bên trong với lí do đã hết chỗ. Xướng ngôn viên chính của chương trình gồm có hai người; một nữ người Ba Tây đang theo học năm thứ ba tại đại học Tokyo, và một nam người Mã Lai đang học về chuyên môn tại Ibaragi. Cả hai với cách trình bày Nhật ngữ, Anh ngữ, Mã Lai ngữ gẫy gọn đã mở màn cho chương trình bởi nhiều tràng pháo tay rộn rã. Tôi ngồi thu lu ở hàng ghế trên cùng với ba bốn chiếc máy ảnh trên tay do những người bạn Bangladesh nhờ chụp khi đến phiên họ trình diễn. Phải nói, đây là lần đầu tiên tôi được tham dự buổi văn nghệ có tính cách quốc tế như thế này.

Dù không phải là chuyên nghiệp nhưng ít nhiều các diễn viên cũng cho người xem thấy được nét tài hoa, điêu luyện của họ qua từng lời ca điệu múa. Năm ngoái, buổi trình diễn tương tự đã được tổ chức tại hội trường Nakano Hall. Lần ấy tôi không có cơ may tham dự, nhưng năm nay tôi thấy Ban Tổ Chức quả thực đã tốn rất nhiều công sức cũng như của cải để cho buổi trình diễn được thành công. Có thể nói, số lượng người ngồi xem đông hơn số dự trù của ban tổ chức. Họ là thị dân của Nara, hay họ từ khắp nơi vội vã đổ về cho kịp trước giờ hội chợ bế mạc. Sự thực, tôi vốn có thành kiến với cách ủng hộ bằng tiếng vỗ tay rất thiên vị của khán giả Nhật Bản. Nhưng trong lần này, sự ủng hộ của người Nhật qua tiếng vỗ tay của mọi quốc gia trình diễn có vẻ rất đồng đều, ai cũng được bình đẳng như nhau. Đôi khi, tôi có cảm tưởng tiếng vỗ tay là tiếng sóng. Từng tiết mục một đi qua thật chậm chạp. Tôi cứ nhấp nhỏm chờ đến phiên trình diễn của gà nhà nên công việc chụp hình hộ mấy ông bạn Bangladesh chỉ được làm quấy quá cho qua chuyện. Công bình mà nói thì mỗi dân tộc đều có nét độc đáo riêng cũng như tiết tấu mới lạ. Dân tộc Phi với điệu múa xạp rộn rã nhưng nhiều nguy hiểm; dân tộc Trung Hoa với khúc múa lụa ẻo lả, tạo cho người xem cảm giác bồng bềnh. Mã Lai có hoạt cảnh đám cưới về làng với tiếng trống rôm rả và y phục xinh tươi. Điệu múa Thái với bàn tay cong cong, ngả ngớn như ve vuốt người tình vô hình. Bangladesh với nhạc khí kỳ lạ và giọng ca lúc mạnh như bay bổng khỏi tầng may, lúc rền rĩ như đang gọi hồn người về từ cõi u linh mê điệu. Tôi ngồi xem và cố gắng ghi nhớ một cách khái quát vài nét chính của từng đặc thù qua mỗi tiết mục trình diễn.

Phải đến khi hai người xướng ngôn viên, bằng ba thứ tiếng khác nhau, giới thiệu đến tiết mục “Múa Nón Quai Thao” của Việt Nam và tiếng vỗ tay chào đón của khán giả vang lên, tôi mới biết là giây phút mình chờ đợi đã đến. Có một giòng máu chạy ngược theo sống lưng, tôi cảm thấy mình đã… “bốc”. Máy hình đã được chuẩn bị sẵn sàng. Mấy cái máy dư thừa khác, cái nào đeo được thì quàng vào vai, cái nào không đeo được thì gửi cho người bên cạnh. Giả như trong lúc tôi đang lăng xăng, có ai phiền hà gì thì tôi cũng coi bứa đi là xong chuyện. Ở trên sân khấu bây giờ, sáu cô gái Việt Nam trong chiếc áo tứ thân đang uốn mình qua lại theo điệu nhạc. Điệu múa này tôi đã được xem một lần trong dịp đại lễ Quốc Khánh hồi nửa năm về trước. Lúc đó, chung quanh toàn và Việt Nam nên tôi đã ngồi xem trong tâm trạng thưởng ngoạn. Bây giờ, khán giả không phải là người mình, lại diễn chung với toàn những người anh em có máu mặt. Tôi chỉ mong sao đừng có một sơ sẩy nào. Điệu vũ phải thành công vì tất cả đều cầu mong như vậy. Trên đường di chuyển kiếm vị trí tốt để chụp hình, tôi thấy vui vì mọi người đang xem chăm chú. Ở một nơi, có hai bà ngồi bàn tán ồn ào về chiếc nón quai thao mà các cô đang cầm tung tăng trên sân khấu. Chỉ một chiếc nón đã tạo nên vẻ nhu mì; cũng chiếc nón ấy, qua tình tiết của điệu múa đã biến sáu cô gái thành sáu bông hoa nhí nhảnh.

Sân khấu cũng biến thành đường hoa, chiếc nón trao nhau như trao luôn cả một hình ảnh dấu yêu của quê nhà. Tôi nhận ra rằng điệu múa của mình mang sắc thái êm đềm, tình tứ quá. Sắc thái này sẽ đóng góp cho buổi văn nghệ thêm một góc cạnh nghệ thuật khác, là yếu tố đưa đến sự thành công chung cho suốt buổi trình diễn.

Buổi chiều, chương trình được tiếp diễn bởi những đoàn ca múa dân tộc chuyên nghiệp của Nhật Bản, từ các tỉnh phía Bắc đổ về. Không bị ràng buộc trách nhiệm, tôi lang thang định tìm lối vào hội trường ngồi xem, không ngờ lại bị chặn lại vì lý do… hết chỗ. Từ đó, tôi cứ vật vờ ở hậu trường chờ hết giờ trình diễn để trở về lữ quán. Sáu cô ban vũ trong trạng thái chờ đợi, không biết làm gì lo chuẩn bị gom đồ đạc lại và dẫn nhau đi chụp hình chung với những người bạn nước khác. Buổi tối hôm đó, về tới lữ quán, tôi ngâm mình trong bồn nước nóng để xả đi những nhọc mệt của một ngày ngồi vêu vao. Sau đó tôi lại thả mình vào giấc ngủ say sưa, không mộng mị khí bên ngoài lobby của lữ quán, từng nhóm, từng cặp vẫn còn đang thơ thẩn ngồi nói chuyện với nhau bằng từng ngôn ngữ riêng của nước họ.

10/10

Ngày thứ ba của cuộc hành trình là ngày trở về lại Tokyo. Buổi sáng, sau khi ngủ dậy, mọi người lại kéo xuống nhà ăn nhận bữa sáng. Cũng vẫn khung cảnh tấp nập như buổi sáng hôm qua, nhóm này gọi nhóm kia í ơi. Nhận phần ăn rồi, cũng lại có vụ la lối rằng trong thức ăn có cả thịt lợn. Hóa ra, mấy anh chàng Mã Lai không được phép ăn thịt vì kiêng cữ gì đó trong phạm vi tôn giáo. Cuối cùng, họ đành ăn bánh mì không, uống cà phê với chút rau xà lách. Thật là những người kém may mắn, thức ăn có đấy không được ăn, trong khi bao nhiêu người cần ăn lại không ăn được. Tám giờ sáng, giã từ lữ quán. Bao nhiêu vật dụng đem theo giờ phải đem hết về. Ba chiếc xe nối đuôi nhau chạy về hướng hội chợ hôm qua, nơi chúng tôi đã đến trình diễn. Nhận vé vào cửa từ Ban Tổ Chức, chúng tôi lại mất một buổi sáng đi rong mặc dù trong thâm tâm, có người muốn được trở về Tokyo sớm giờ nào hay giờ đó.

Đường về, trời trong xanh, mây hiền lành. Cơn bão số 24 đã tan biến vào quãng không gian vô tận. Chẳng còn ai nghĩ gì đến cơn bão đã qua nên lại vô tư hát hò những bản nhạc Karaoke quen thuộc. Tại khúc đường kẹt, mọi người sốt ruột chờ thời khắc trôi qua theo từng vòng bánh xe chậm chạp. Biết có kịp xe điện cho người ở xa không? Đến khi lọt vào cùng ánh sáng muôn màu của thủ đô Tokyo, nhìn đồng hồ tay, vừa đúng 11h rưỡi đêm ngày mùng 10 tháng 10. Mọi người không ai kịp giã từ ai, vội vã chạy về hướng nhà ga Shinzuku để mong bắt kịp chuyến tàu chót.

Ba ngày trôi nổi đã qua. Đường khuya, tôi đạp xe về nhà, lòng nhẹ nhõm vì cảm giác vừa làm xong một công việc. Xe đạp lên dốc cầu ở một khúc sông gần nhà, tôi nhìn thấy mặt nước mệnh mông, sáng lấp lánh như tấm thảm thần bởi sự phản chiếu ánh sáng của những chùm đèn quảng cáo xanh đỏ. Đầu sông bên kia âm u, tím thẫm. Qua chỗ ngoặt là biển Thái Bình. Đường về quê nhà tuy xa nhưng tôi chợt thấy gần như trong gang tấc. Giờ này, trên suốt dải quê hương khốn khổ đó, bao nhiêu triệu dân mình đang sống ra sao? Cuộc sống mơ hồ, ảm đạm thế nào. Chẳng biết có mấy ai trong chúng ta để tâm suy nghĩ đến? Tôi nghĩ đến chuyến đi vừa qua. Ba ngày của một đời người! Sẽ chẳng là gì nếu ta đem so sánh với sự luân lưu triền miên của dòng sống. Một vũ khúc dân tộc! Cũng sẽ chẳng là gì trong chuyển động mạnh liệt của guồng máy xã hội. Nhưng khi nền văn hóa xứ mình được vinh danh trên sân khấu xứ người, những đóng góp nhỏ nhoi ấy phải đem lại cho mọi người chúng ta niềm vui to lớn. Niềm vui ấy chắc chắn sẽ góp phần làm ngắn lại đường về quê hương. Hai tuần sau, ngày 23 tháng 10, tại Hội quán văn hóa Kannai, sẽ có buổi văn nghệ do Tổng Bộ Tỵ Nạn tổ chức; ngày 30 tháng 10, tại Kanagawa Kem-min hall, có buổi văn nghệ do nhóm “We Love Asia” tổ chức và ngày 13 tháng 11 ở một hội quán văn hóa Saitama… Sáu cô gái Việt Nam sẽ lại lần lượt xuất hiện để đem lại cho chúng ta một tiếng nói. Tiếng nói góp phần vào sự hồi sinh của cả dân tộc về mọi phương diện dù rất nhỏ bé, khiêm nhường. Phần thưởng cao quý dành cho các cô chỉ có là tiếng vỗ tay vô tư của người thưởng ngoạn. Trong những tiếng vỗ tay vô tư đó, có cả tiếng vỗ tay của chúng ta: Những người đang bình tâm sống nơi phần đất tạm dung yên ổn này.

-NTH-

ĐỌC “DỐC NGUYỆT TRÀO SÔNG”

AN HẢI

Tác phẩm đăng trên Phụ trang Á Châu số 79 – tháng 9/1988

ĐỌC “DỐC NGUYỆT TRÀO SÔNG”

Bìa sách Dốc Nguyệt Trào Sông

Người đọc rất thích phần kết của Dốc Nguyệt Trào Sông. Điều này có thể thường tình vì linh hồn truyện ngắn thường nằm ở những câu cuối. Những câu văn mà tác giả truyện ngắn chờ đợi để đem lại người đọc một cảm xúc “sấm sét” sau những dồn nén bởi bố cục hạn chế của thể văn này. Nguyễn Từ Hanh thì không chỉ gây nghẹt thở ở phần kết mà còn làm ta hạnh phúc – hạnh phúc vì được nhìn thấy lẽ tất thắng của lý tưởng mà mình đang theo đuổi. Xuất hiện phần lớn và đều đặn trên các số báo Kháng Chiến, Dốc Nguyệt Trào Sông là bức quang phổ của rất nhiều khía cạnh đấu tranh toàn diện được phát xuất từ một điểm sáng chân lý: Sức mạnh dân tộc. Như những dòng sông mang hương hoa, mùi vị của đất trời chảy qua trước khi đổ vào biển rộng, mỗi truyện ngắn là một khám phá của những tình tiết mà tác giả đã dày công nghiên cứu, chọn lọc.

Từ cách làm diều 6 của chú bé Trọng đến cách cất rượu mơ của người Mèo, từ bài võ Thủy Long Chân Quyền đến mũi tiêu ám sát Phan Tri Phủ, món ẩm trà cầu kỳ của Vĩnh Xuyên Tiên Sinh đến xạ thuật thần sầu cuả Thân Bá Phúc và rất nhiều dữ kiện nữa đã không những nói lên kiến thức quảng bác mà còn chứng tỏ sự tìm hiểu cẩn thận của tác giả khi đầu tư vào việc xây dựng đề tài. Dốc Nguyệt Trào Sông là tập truyện với nghệ thuật xử dụng hư cấu rất thần tình. Sự xuất hiện của Điều Ngư Giác Hoàng Nhân Tông với BÀI KỆ NGOÀI KINH thuyết giảng Ngô Thời Nhậm, sự dẫn dắt LONG MÔN HIỆP KHÁCH đi về Lam Sơn của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật hay mối tình truyền kiếp của Hoàng – Mai bên HỒ THAN THỞ, cái chết hiển linh của Dương Thị Hòa…

Nếu chỉ đứng trên một quan niệm duy lý cứng ngắc về thời gian, sinh mệnh, ta sẽ khó thông cảm với những đại ý của những truyện này, nhưng một khi đã hiểu Việt Sử là Tranh Đấu Sử, luân lưu trong dòng sử dân tộc là một sức mạnh toàn năng được tích lũy và truyền tự qua từng thế hệ để chiến thắng từng kẻ thù đến từ chuỗi nỗ lực không ngừng, không đoạn của những người đang sống hay đã chết cho tương lai đất nước, thì sự biện dẫn cái hư cấu này cũng chỉ là để kiên định niềm tin vào vận mệnh đất nước: đó là niềm tin vào hồn thiêng sông núi mà Nguyễn Từ Hanh đã đem lại gần gũi với người đọc. Thử đọc một đoạn trong phần kết của CHUYỆN DƯƠNG THỊ HÒA có thể làm điển hình cho nhân xét nêu trên: “Thuận nhìn lên trời tối thẫm mà nghĩ đến cuộc đấu tranh của dân mình. Chàng có toàn thể đồng bào, có anh em, chàng cũng có những người như nàng, dù đã chết mà vẫn không quên bổn phận. Thuận nhớ đến mẹ già, nhớ đến người cha đã mất gần 20 năm. Chàng nhớ đến ông bà nội và những người chàng chưa bao giờ gặp, từ muôn đời muôn kiếp trước. Thuận biết là tổ tiên của mình đã chiến đấu ra sao.

Dốc Nguyệt Trào Sông làm trỗi lên trong tâm hồn người đọc một ý thức trở về mãnh liệt, bởi lẽ ngòi bút của tác giả dù bay lượn trên từng không gian, làm sống lại các thời đại, dựng ra viễn ảnh và tạo hình cho mỗi nhân vật vẫn không bao giờ rời khỏi một hấp lực chung quyết: Tổ Quốc. Đôi mắt của Thái Bình bên góc trời Paris của một tấm lòng tiếp vận tận tụy, đến hơi thở cuối, bằng nghĩa cử trao gởi cao đẹp đã hướng dõi tia nhìn vĩnh cửu của nó về quê hương yêu dấu.

Bó Hoa Cúc Vàng, nén nhang thơm dâng lên bằng tấm lòng thành kính của những đoàn viên hải ngoại đã lay động và triệu thỉnh một anh lính trở về nhập cuộc cùng với muôn vạn hương hồn tổ tiên trong cuộc đấu tranh này. Họ đang đi tiếp con đường lão đã vạch ra, như muôn ngàn người trước lão, như muôn ngàn năm về trước. Họ đang đi lên như sóng. Họ đang vươn lên như những cánh chim trời để bay về chân Quốc Tổ. Ngắm lẵng hoa tươi tắn trước sóng, lão biết mình sẽ làm gì vào ngày đầu xuân…( LÃO GIÀ TRÊN ĐỒI CÚC) hay một Long Môn Hiệp Khách biết rời xa những hành động nghĩa hiệp cá nhân tìm về Kháng Chiến Lam Sơn để đấu tranh “đến nơi đến chốn”, hay một Hoàng Đình Kinh vào sinh ra tử, không xá vết thương thân, không hiếm mối thù riêng dìu dắt Mãng Thép tìm đến hung thủ để cùng lo việc đánh Tây… là những tấm gương yêu nước, dũng lược của người xưa mà tác giả Nguyễn Từ Hanh đã thiết tha gợi lại với những mong xóa bỏ bao định kiến, cố chấp hẹp hòi trong chúng ta vốn là nguyên nhân làm cản trở đấu tranh. Tuyệt nhiên người đọc không tìm thấy trong Dốc Nguyệt Trào Sông một ý tưởng sầu bi nào, tác phẩm ngoài giá trị văn chương còn có ý nghĩa của một vũ khí làm mạnh mẽ tâm hồn người đọc.

Ngay cả trong những câu chuyện tình yêu có nước mắt, nhớ thương, sinh ly tử biệt và đầy đủ những chất tố lãng mạn nhất vẫn hướng quyện vào mối tình thiêng liêng chung: khi thì kín đáo thâm trầm như một Hương Lan bay tỏa từ núi về đời, tỏ tình chàng để nàng thành nghĩa binh, khi thì dào dạt như một câu hát chuyển động mặt hồ của đôi lòng đi kháng chiến vì đã nhìn ra một kích thước khác của tình yêu. Chúng ta chưa quên là vào những năm 1930-1940, với âm mưu lãnh đạo văn nghệ, việt cộng đã tung ra chiêu bài gọi là lãng mạn cách mạng để dụ hoặc sự phản tỉnh đầy hấp tấp của một số văn nghệ sĩ tiền chiến lúc ấy đang còn chới với, ngụp lặn trong dòng văn chương lãng mạn Tây Phương. Từ đó về sau, người ta không còn tìm thấy trong văn học việt cộng một tình yêu đúng nghĩa, có chăng thì cũng bị bóp méo, chia năm xẻ bảy vì phải dâng Bác, dâng Đảng, nhà nước, chủ nghĩa… một cách máy móc và buồn cười.

Trong khi đó ở miền Nam Tự Do, rất nhiều văn nghệ sĩ vì mặc cảm, chán chường… đã tha hóa, tách bạch tình yêu ra khỏi những liên quan hệ trọng khác. Đề tài lãng mạn tràn ngập sách báo của một quốc gia chiến tranh đang phải đương đầu với giặc dữ quả là một thiếu sót lớn của nền văn học miền Nam trước đây. Chúng ta thỏa mãn khi đọc Nguyễn Từ Hanh. Tình yêu trong truyện của ông vút lên thành gió thành trăng nhưng thủy chung vẫn dốc xuống đổ trào trên những ngọn triều dâng để chỉ khi nào biết bơi thuyền trên sông vắng quê nhà, biết tìm về dân tộc ta mới nhận được một tình yêu như vậy. Nguyễn Từ Hanh không tưởng tượng suông. Ông viết từ sự thật và bằng những hình tượng văn học để làm đẹp những con người thật như Khiêm đang ngày đêm cặm cụi kiên trì với Đài Phát Thanh trong nước, như Tuân luôn luôn có mặt, luôn luôn vững chãi, người anh cả của Xứ Bộ Nhật Bản này nếu không có Dốc Nguyệt Trào Sông đến bao giờ ta mới biết được trong trái tim đấu tranh sắt thép chưa có lần lùi bước trước công tác đó đã một lần rỉ máu vì mối tình sớm lụy. Điều kỳ diệu là bài hát Hoài Cảm chưa quên ngày xưa và đời sống hoàn toàn hy sinh cho tổ quốc bây giờ đã cũng có trên một con người. Vì sao? Nếu không đọc Dốc Nguyệt Trào Sông ta khó lòng hiểu nổi. Cái gì còn lại trong tâm tư ta sau khi đọc xong tác phẩm: xúc động, nôn nao, phấn khởi… khó mà viết được – nhưng đối với tác giả Nguyễn Từ Hanh, điều mà ông mong đợi ở độc giả có lẽ rất đơn sơ, đó là: QUYẾT TÂM GIẢI PHÓNG VIỆT NAM.

Đông Kinh, Hạ 1988

NHỮNG MÁI ĐẦU KỀ CHỤM

TRẦN HÀN GIANG

Bút ký trên Nguyện san Hiệp Hội số 65, tháng 1/1996

NHỮNG MÁI ĐẦU KỀ CHỤM

9 giờ hơn rồi nhỉ? Khuya nay trời lạnh lắm đó, chắc dưới 5 độ. Tôi phải về thôi, đề còn viết gấp và đăng cho kịp tin này vào số báo ngày mai. Chúc các bạn cố gắng.

Sau khi chào tạm biệt người trưởng ban tổ chức, không nén vẻ xúc động, một lần nữa người ký giả của nhật báo ASAHI quay lại cúi đầu trước 8 thân người đang ngồi im lặng dưới mái tây hiên chùa JOENJI. Gió bấc trở mạnh, thổi từng cơn cắn xiết da người – cuộc tuyệt thực cho nhân quyền Việt Nam đang bước vào giai đoạn cam go nhất trước sự tấn công nghiệt ngã của thời tiết. Xa xa bên cửa Nam Shinjuku, ánh sáng của toà đô sảnh bị che mờ bởi những làn sương đêm xuống thấp, nhường lại cho góc phố này sự yên tĩnh hiếm thấy của một đêm thứ Bảy, giữa đô thành phồn hoa vào bậc nhất thế giới. Nơi cuối trời Tây, trăng hạ tuần chênh vênh, cô lạnh. Minh nguyệt – Cố hương, thiên nhiên đối với người lưu lạc bao giờ cũng là những gợi nhớ khôn nguôi, nhức nhối.

Có tiếng ho nén xuống se sẽ của thầy Chân Lễ đang ngồi giữa nhóm người tuyệt thực. Cơn sốt tuần qua dù đã đẩy thể lực của thầy xuống rất thấp, nhưng chắc chắn rằng không ai có thể ngăn cản được ý chí sắt thép đó mỗi khi quyết định chuyện gì. Mười năm lưu dung đầy cay cực đối với đời người tu sĩ không chùa, vẫn chưa thấy thầy trì trệ bất cứ một công chuyện Phật sự và đấu tranh nào. Từ lời kinh tiếng kệ trong buổi lễ cầu an, cho đến những vận động ngoại giao cùng với cha Hiến nơi tiền đình quốc hội, hoặc công tác phối hợp giải trừ pháp nạn Việt nam với các đại thiền sư Nhật bản; hoặc như đêm nay, âm thầm cảm sốt giữa trời đông – mảnh áo nâu sòng lưu lạc đó đã mặc chứng được
rằng “Đạo Pháp trong lòng Dân Tộc”.

Trời đã vào khuya. Đèn bật sáng nơi hậu sảnh. Đêm Không Ngủ được bắt đầu bằng buổi hội thảo về đề tài Nhân Quyền. Những mái đầu chụm lại và tất cả ánh mắt đổ dồn về hướng người phát biểu. Cuộc dấu tranh bất bạo động theo truyền thống tôn giáo từ xưa đến nay đang trở thành lực lượng xung kích chủ yếu để thực hiện dân chủ cho Việt Nam.

12 năm trong lao tù Cộng sản hung bạo vẫn không hề làm suy suyễn những quan niệm rất nhân bản trong lời phát biểu trên dây của cụ Nguyễn Thạch Kiên — một nhân sĩ Cao Đài cao niên. Có tiếng pha trà rón rén của cô y tá Thúy túc trực chăm sóc sức khoẻ cho mọi người lẫn trong tiếng vỗ tay chan hòa, vừa phải. Không khí thân tình như một đại gia đình hơn là một hội nghị. Cảm nghĩ thận trọng và chân xác sau đây của anh Đỗ Trọng Hòa đă được mọi người hoàn toàn tán thành. Với những nỗ lực đấu tranh to lớn ở trong nước, cùng với sự hỗ trợ đáng kể của hải ngoại hiện nay thì chắc chắn rằng chẳng còn bao lâu nữa đất nước chúng ta sẽ dân chủ thực sự. Vâng, sẽ không còn bao lâu nữa đất nước mình phải tươi sáng. Cảm ơn tất cả những mái đầu kề chụm, bạc có đen có, của đêm nay, đã khơi bùng ngọn lửa tin yêu và hy vọng. Và cảm ơn những thân người đói lạnh ngoài kia, thầm lặng nhưng vô cùng dũng mãnh nói lên ước nguyện dân chủ tha thiết của dân tộc. “Dou ka “jin ken” to iu kokoro no hana wo betonamu ni”[1]. Sau đêm đông này, sau cơn bão dữ, sau những thời tiết chính trị ảm đạm của hơn một trăm năm qua, sẽ có một ngày, vâng sẻ có một ngày đất nước lại rạng nở những “tâm hoa” của quyền sống con người.

Sẽ có một ngày con người hôm nay :

Vất súng, vẩt cùm, vất cờ, vất Đảng,

Đội lại khăn tang, quay ngang vòng nạng

Oan khiên!

Về với miếu đường, mồ mả gia tiên…

Khai sáng kỷ nguyên tã trắng thẳng cờ hồng!…

Thay tiếng Tiến quân ca và Quốc tế ca

Là tiếng sáo diều trên trời xanh bao la !

                                                 Nguyễn Chí Thiện

Trưa ngày 10/12, ở thời điểm cuối của cuộc tuyệt thực, các câu phỏng vấn của nhà báo Sankei được trả lời bằng những cặp môi tái nhợt, khô nứt dưới sống mũi đỏ húp lên vì lạnh. Đúng 12 giờ 30, sau 24 tiếng đồng hồ cầm cự, trước khi chấm dứt, bác sĩ Khôi vừa nói chuyện thăm hỏi, vừa liên tục bắt mạch, kiểm tra sức khỏe cho mọi thành viên. Mặc dù hầu như đã hoàn toàn kiệt sức, thầy Chân Lễ vẫn tiếp tục hành lễ cầu an cho mọi người. Sau đó là 30 phút nghỉ ngơi, vừa để phân công chớp nhoáng cho công tác sau cùng – đọc kháng nghị tại sứ quán Việt cộng.


Tập trung tại ga X, men dọc theo hoàn lộ số 6, rồi bẻ trái ở trạm xăng Y, theo từng toán nhỏ, đoàn người di chuyển nhanh lẹ về hướng địa điểm. Bóng anh Xê sấn bước dẫn đầu, hôm qua tuyệt thực, hôm nay biểu tình, cái gì đã nuôi dưỡng nhịp sống nồng cháy, liên lỉ suốt quãng đời 15 năm tỵ nạn đó? Lòng yêu nước và những mối thâm tình của quá khứ – chưa đủ, theo anh còn phải là sự thức tỉnh thường trực trước mọi ý niệm và khát vọng về dân chủ.

Bản của ủy ban Tổ chức Tuyệt thực cho Nhân Quyền Việt Nam

Sứ quán nằm ở đầu con dốc, cũ kĩ, bệ rạc, bởi chẳng còn nhân viên nào đoái hoài đến thể thống, danh dự quốc gia ngoài chuyện mánh lới làm ăn để vơ vét về nước. Thái độ từ chối, khiếp sợ trước yêu cầu đối thoại cùa đoàn biểu tình đã phần nào cho thấy tình trạng biến chất, thoái hóa trầm trọng của hàng ngũ cán bộ Cộng sản, mặt khác, cũng làm nổi bật sự vững vàng trong cách thức vận động dân chủ của đồng bào hải ngoại.

Chia tay nhau tại ga X, sau 2 ngày đêm ráo riết, giấc ngủ chập chờn chợt đến trên những chuyến xe trở về. Hoàng hôn qua mau, những ngọn đèn đường đã bắt đầu giăng sáng đó đây trong ráng chiều hấp hối của một ngày tháng Chạp. Năm sắp hết. Hai mươi năm rồi qua. Trong khung cảnh rộn ràng đón mừng thế kỷ mới, dưới mái nhà nhân loại chung vui hôm nay vẫn còn đầy dẫy những nhát chém phi nhân thù hận, dọc ngang trên hình hài đất mẹ đang bị phanh thân lần mòn bởi đủ loại tay buôn quốc tế sừng sỏ.

Ta về trùm nỗi âm u,

Nghe đâu đây mọc ngàn thu úa vàng.

Bao năm thân phận hỗn mang.

Một quê hương đó, trăm ngàn mộ bia.

Nếu chiến tranh ngày trước đã cướp đi thân xác, máu xương thì xã hội băng hoại ngày nay đã trở thành mồ chôn của biết bao giá trị tinh thần tốt đẹp. “Trăm ngàn mộ bia” Câu thơ của thầy cũ ngấn lên, se sắt cõi lòng, buồn như đời thầy, một tù nhân Cộng sản. Buồn như đất nước – không biết sẽ phải bất hạnh cho đến bao giờ.

Hẹn em nhé

năm hai ngàn sẽ

hai bên cửa hé

cho anh trở về.

Từ ngày đi, theo cuộc tỉnh mê…

Cảm ơn Phạm Duy, câu hát của ông bao giờ cũng sưởi ẩm hồn người. Và một lần nữa, xin cảm ơn những mái đầu kề chụm đêm qua đã cùng nhau chuyền nối những ngọn lửa dũng huệ của Đoàn viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế, cùng chư Tôn Đức Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Trí Siêu,Thích Tuệ Sĩ… và trăm ngàn chiến sĩ dân chủ khác đang ngày đêm thao thức để hé bật cánh cửa của NGÀY MAI.


[1] Trích từ thỉnh nguyện thư gửi đến bà Doi Takako, Chủ tịch Quốc hội Nhật

CON DAO CẠO

VY ANH – HỔ CÁP

Tác phẩm chuyển ngữ, Nguyệt san Hiệp Hội số 60 tháng 7&8/1995

CON DAO CẠO

Truyện của Shiga Naoya

Anh chàng Yoshisaburo ở Tatsudo, Azabu Roppongi là một người không bao giờ biết bệnh tật là gì, giờ đây nằm liệt giường trong cơn cảm nặng. Ngày lễ Trung Nguyên sắp đến rồi, đó là thời gian rất bận rộn trong nghề hớt tóc của anh. Nằm trên giường bệnh, Yoshisaburo hối tiếc là đã cho hai người thợ giúp việc Genko và Jidako nghỉ một tháng trước đây.

Trong quá khứ, anh cũng đã từng làm người giúp việc như họ dù chỉ lớn hơn họ một hai tuổi. Người chủ tiệm trước đây, dùng dao cạo rất giỏi, đã gả người con gái cho anh và nghỉ dưỡng già một thời gian sau đó, để lại cho anh cửa tiệm hớt tóc của ông ta.

Genko thầm yêu cô con gái của ông chủ nên đã nghỉ việc ngay. Nhưng anh chàng Jidako hiền lành đã thay đổi cách xưng hô với anh bằng “ồng chủ” thay vì “anh Yoshi” và vẫn làm việc chăm chỉ như trước. Ông chủ cũ chết sáu tháng sau, và cũng khoảng sáu tháng sau nữa thì người vợ cũng qua đời.

Nếu nói về việc xử dụng dao cạo thì Yoshisaburo thật là khéo léo. Anh là một người rất trầm tĩnh: một khi anh cạo da và dù chỉ thấy hơi nhám thôi, anh cũng chẳng hài lòng cho đến khi mà từng cọng tóc cụt cứng trở nên nhẵn nhụi láng lẩy anh mới chịu. Khách thường bảo là khi mà họ được Yoshisaburo cạo thì họ cảm thấy được trẻ hẳn đi. Anh cũngtự hào là trong mười năm qua, đã không bao giờ vô ý làm xước da mặt của khách.

Hai năm sau ngày thôi việc, Genko trở lại xin việc làm cũ. Yoshisaburo không còn quan hệ gì với người đồng nghiệp cũ, nhưng đã mướn lại Genko sau vài lời biện giải. Tuy nhiên trong hai năm sau này, Genko lại trở nên tệ, thường xuyên xao lãng trong công việc. Ngoài ra, anh còn dụ giỗ Jidako đi tán những cô gái nhẹ dạ ở Kasumicho là những người thường bám theo những người lính. Cuối cùng, anh xúi dục chàng Jidako khờ khạo ăn cắp tiền của tiệm. Thương hại cho Jidako, Yoshisaburo thường khuyên bảo anh ta. Nhưng khi anh ta lại tái phạm thì Yoshisaburo không thể nào làm gì được khác hơn là cho họ nghỉ việc một tháng trước đây.

Tiệm bây giờ mướn thêm 2 người, một người mặt mày nhợt nhạt, có vẻ biếng nhác khoảng chừng hai mươi tuổi tên là Kanejiro; và Kinko, một đứa trẻ khoảng chừng mười hai mười ba tuổi có cái đầu bất bình thường là dài từ trước ra sau. Vào thời gian trước ngày lễ, khách cũng không có và họ chỉ ngáp ngắn ngáp dài cho hết ngày. Còn Yoshisaburo thì nằm liệt giường nên cảm thấy một nỗi cô đơn trống trải. Nhưng hôm nay, gần giữa trưa, khách lại đến đông. Tiếng động của chiếc cửa kéo đóng mở, cộng thêm tiếng the thé rít qua hàm răng sún của Kinko làm cho Yoshisaburo khó chịu thêm.

Cánh cửa kéo lại được mở ra.

“Đồ này là của ông Yamada ở Ruydo. Ông chủ của tôi sẽ đi du lịch vào tối ngày mai, làm ơn mài dùm con dao cạo này. Chiều tôi sẽ trở lại lấy.” Giọng người đàn bà nói.

“Ngày hôm nay chúng tôi bận lắm. Có thể đợi đến sáng ngày mai lại lấy được không?” Kanejiro hỏi lại.

Người đàn bà có vẻ lưỡng lự giây lát.

“Được rồi,nhưng đừng quên đây nhé.” Nói xong bà đóng cánh cửa lại, nhưng rồi lại mở ra ngay và nói thêm:

“Xin lỗi đã làm phiền anh, nhưng anh thử hỏi ông chủ xem có làm ngay cho tôi được không?”

“Tôi không biết. Ông chủ…” Kanejiro do dự. Yoshisaburo từ giường bệnh ngắt lời anh ta:

“Anh Kane! Tôi sẽ làm cho.” Giọng của anh có vẻ khỏe mạnh.

Chẳng cần trả lời, Kaneijiro nói với người đàn bà: “Được rồi.” Cánh cửa được đóng lại và người đàn bà bỏ đi.

Anh rủa thầm, Yoshisaburo kéo cánh tay ra khỏi chiếc chăn đắp, nhìn thấy nó trắng nhợt. Người anh thì bị cơn bệnh hành nên cảm thấy nó nặng nề và cứng ngắc như một khúc gỗ. Bằng cặp mắt ngái ngủ, anh nhìn cái móc giấy trên tường. Đám ruồi bu đầy cái móc.

Không chủ tâm lắng tai nghe nhưng những câu chuyện ở ngoài cửa tiệm cũng lọt vào tai của anh. Hai hay ba người lính vẫn nói những câu chuyện ở những tiệm ăn nhỏ ở ngoài phố và đồ ăn vô vị của lính, nhưng họ cũng phải đồng ý là nó cũng không tệ lắm. Khi nghe những câu chuyện như thế, Yoshisaburo cảm thấy dễ chịu hơn. Một lát sau, anh uể oải trở mình.

Ảnh sáng trắng của một buổi chiều tối chiếu qua cửa phòng bếp rộng ba chiếu, trong đó vợ của anh, O-Umé, đèo đứa con trên lưng đang dọn bữa ăn tối. Cảm thấy hứng khởi, anh nhìn vợ.

“Phải làm việc thôi”. Tự nghĩ như thế, anh cố nhấc mình lên. Nhưng thấy choáng váng khiến anh phải gục xuống gối một chốc lát.

“Anh phải đi hay sao?” dịu dàng hỏi như thế, O-Umé vừa vẩy đôi bàn tay ướt bước vào phòng. Yoshisaburo muốn nói rằng không, nhưng anh không thể nào nói được. O-Umé dọn dẹp những chai thuốc và mấy cái bình nhổ nước miếng về một bên. Yoshisaburo cố gắng ngồi lên một lần nữa.

“Không được” anh muốn nói , nhưng giọng của anh khàn khàn nên O-Umé không nghe. Khí lực của anh hồi phục quá chậm nên chóng sụp.

“Em đỡ đằng sau cho anh đứng dậy có được không?” Thương hại cho chồng, O-Ume vòng ra sau lưng của chồng.                   

“Đem vào đây cho anh giải da liếc dao cạo và con dao của ông Yamada”. Yoshisaburo nói không thành tiếng với vợ. O-Umé ngần ngừ giây lát.

“Anh làm có được không?”

“Được. Đem lại đây cho anh.”

“…Nếu vậy thì anh nên mặc áo hớt tóc vào.”

“Anh đã bảo là không sao mà, đem vào đây cho anh đi. Em có mang lại đây hay là không?” Giọng của anh yếu nhưng có vẻ gắt gỏng. Làm bộ không nghe gì cả, O-Umé lấy chiếc áo hớt tóc và mặc cho anh, trong khi anh ngồi ngay ngắn trên giường. Nhấc một cánh tay để lên vai, anh nắm chiếc áo từ cổ và kéo nó ra khỏi người anh.

Lặng lẽ, O-Umé kéo cánh cửa phòng, đi qua lối đi của cái sàn dơ, và mang lại cho anh giải da liếc dao và con dao cạo. Không có chỗ để móc cái giải da, nàng phải đóng cây đinh vào cột gỗ gần gối của anh.

Ngay cả những lúc bình thường hoặc lúc trong người cảm thấy không được khỏe, Yoshisaburo cũng không thể nào liếc dao sắc được. Bây giờ tay của anh run vì cơn sốt, anh không thể nào liếc dao bén như ý muôn được. O-Umé không nhẫn nại đứng nhìn anh miệt mài làm việc, nàng nhắc chừng: ‘Tại sao anh không nhờ Kané mài dùm?” Nhưng anh chẳng trả lời. Cuối cùng thì sự nhẫn nại của anh cũng không còn. Khoảng chừng mười lăm phút sau, dường như là ý chí và sức lực đã được đem ra dùng hết, anh ngã bật ra giường. Lập tức thấy buồn ngủ, anh ngủ thiếp đi.

Vào khoảng giờ lên đèn, người giúp việc của gia đình Yamada sau khi đi rong, trở lại lấy con dao.

O-Umé nấu cháo cho anh. Nàng muốn cho anh ăn trước khi trời trở lạnh, nhưng cũng sợ rằng nếu đánh thức thì cơn ngủ mệt mỏi sẽ làm cho tinh thần của anh suy yếu trở lại. Đã gần tám giờ. Nếu đánh thức anh trễ quá thì quá giờ uống thuốc, nàng buộc lòng phải đánh thức anh dậy. Yoshisaburo không vì thế mà bực mình, ngồi dậy ăn một ít cháo để uống thuốc. Sau đó anh lại nằm xuống ngủ thiếp đi.

Gần mười giờ, Yoshisaburo lại thức dậy để uống thuốc. Lần này, nằm mơ màng, đầu óc trống rỗng. Hơi thở nóng của anh, bị ngăn bởi tấm chăn đắp lên tận mắt, tỏa vào mặt của anh. Ngoài tiệm cũng vắng lặng. Anh thờ ơ nhìn quanh. Trên cột nhà, cái giải da liếc dao im lìm máng ở đó. Ánh sáng lờ mờ của cây đèn tỏa ra ánh sáng đỏ vàng mờ mờ. Trong một góc phòng, O-Umé cho con bú ở trên giường, và ánh đèn chiếu sáng lưng của nàng. Anh tưởng chừng như là toàn căn phòng đều nhuốm bệnh.

“Ông chủ…Ông chủ…” Tiếng gọi của Kinko từ ngoài ngưỡng cửa.

“Có việc gì thế” Yoshisaburo mấp máy hỏi qua mép của chiếc mền. Không biết cái tiếng khàn khàn, như bị nghẹt thở đó có nghe được hay không, Kinko gọi tiếp: “Ông chủ…”

“Việc gì thế?” Lần này thì tiếng nói rõ ràng và mạnh hơn.

“Người nhà ông Yamada lại đem đến con dao.”

“Một con dao khác hả?”

“Không phải, cũng con dao cũ. Ông ta cạo thử ngay, nhưng nó không được bén. Ông ta nói là nếu có thể được thì tối ngày mai ông sẽ dùng đến nó. Ông ta muốn ông chủ thử nó trước khi giao hàng.”

“Người giúp việc còn ở ngoài đó không?”

“Không, Bà ta đi rồi.”

“Đưa cho tôi.” Anh thò tay ra cầm lấy con dao và cả cái vỏ dao.

“Tay của anh chưa được khỏe. Em nghĩ là nên nhờ ông Yoshikawa ở Kasumicho thì tốt hơn?”

Nói xong, nàng kéo lại vạt áo kimono che ngực của nàng lại và đứng lên. Yoshisaburo lặng lẽ với tay ra vặn ngọn bấc của chiếc đèn lên, rút cái dao ra khỏi vỏ, lật qua lật lại con dao. O-Umé ngồi bên cạnh gối của anh, nàng nhè nhẹ đặt tay lên trán của anh. Với bàn tay còn lại, Yoshisaburo hất tay của nàng ra như đuổi mồi vậy.

“Kinko!”

“Dạ.” Nó tới ngay bên giường.

“Đem cục đá mài lại đây.”

“Dạ”.

Đá đã sẵn sàng, Yoshisaburo ngồi lên và một chân gấp lại trước cục đá mài. Đồng hồ điểm mười giờ.

O-Umé, biết là không nên nói điều gì, im lặng ngồi nhìn.

Sau khi mài xong lưỡi dao, Yoshisaburo liếc dao trên miếng da. Anh tưởng chừng như là không khí ở trong phòng sôi động trở lại theo tiếng liếc dao. cố gắng kềm chế cánh tay run, Yoshisaburo liếc lưỡi dao nhịp nhàng hơn, nhưng anh không thể nào mài bén hơn. Nhưng không lâu, cái đinh mà O-Umé đóng để móc miếng da bất thần bật ra. Miếng da phóng ngược về phía anh và quấn vào con dao.

“A! Nguy hiểm quá!” O-Umé la lên, nàng sợ hãi nhìn mặt chồng. Anh đang nhíu mày.

Gỡ giải da ra, anh ném nó trên sàn nhà. cầm con dao trên tay, với bộ đồ ngủ đang mặc, anh đứng lên và đi ra cửa tiệm.

“Anh đừng nên làm như thế…”

Với giọng nói ứa nước mắt, O- Umé kéo anh lại. Nhưng anh chẳng thèm nghe lời. Chẳng thèm nói năng gì cả, anh cứ đi ra phòng hớt. O-Umé theo sau anh.

Chẳng có người khách nào ở trong tiệm. Kinko đang ngồi trên ghế hớt trước tấm kiếng soi.

“Kané đâu?” O-Umé hỏi.

“Anh ta đang đi tán cô Tokiko” Kinko nói với vẻ mặt khẩn trương

“Có việc đó hả? Anh ta nói anh ta đi làm gì hả?” O-Umé bật cười. Nhưng Yoshisaburo vẫn nhíu mày, vẫn vẻ mặt nghiêm nghị như trước.

Tokiko là một cô gái của một gia đình ở cách năm hay sáu căn kế cận, trước nhà có bảng hiệu Đồ QUÂN DỤNG &TẠP HÓA. Người ta nói là cô ta đã tốt nghiệp trung học. Lúc nào ở trước cửa tiệm cũng có một hai người lính, các sinh viên hay những anh trai trẻ quanh vùng lãng vãng.

“Để tôi đóng cửa cho, chú em có thể về được rồi,” O-Umé bảo Kinko.

“Vẫn còn sớm.” Yoshisaburo phản đối. O-Umé im lặng.

Yoshisaburo tiếp tục liếc dao. Một lát sau anh ngồi xuống ngay ngắn, và cảm thấy dễ chịu hơn.

Đem chiếc áo ấm cho anh, O- Umé nói nhẹ nhàng khuyên dụ anh bỏ ý định. Nhưng rồi nàng cảm thấy hơi thoải mái, đến ngồi ngay ngưỡng cửa và nhìn gương mặt của chồng khi anh đang để hết tâm trí vào việc liếc dao. Còn Kinko, ngồi trên chiếc ghế hớt tóc gần cửa sổ.

Ngay lúc đó, cánh cửa kiếng được nhẹ nhàng mở ra, một thanh niên khoảng chừng hai mươi hai hay hai mươi ba tuổi bước vào.

“Tôi chỉ muốn cạo sơ mà thôi. Tôi có việc gấp lắm. Ông có thể cạo cho tôi không?” Nói xong, anh ta đường đột dừng lại trước tấm kiếng. Trề môi, nhô cằm và sờ nó bằng các đầu ngón tay. Người thanh niên nói theo ngôn từ của người thành thị nhưng giọng của một người ở miền quê. Từ bàn tay nhám và những cục u trên các ngón tay đến khuôn mặt rạm nắng cho thấy anh là một người làm ngoài trời nặng nhọc.

“Chạy đi kêu anh Kané. Nhanh lên”. O-umé ngước mắt ra lệnh cho Kinko.

“Tôi làm được rồi”.

“Hôm nay tay của anh chưa được vững mà. Vì thế…”

“Tôi nói là làm được mà.” Yoshisaburo ngắt lời của nàng.

“Anh không không khỏe như mọi ngày mà!” O-Umé dịu giọng.

“Đưa cái áo choàng hớt tóc cho tôi.”

“Chỉ có cạo thôi mà. Chẳng hớt sợi tóc nào mà. Sao không để Kané làm như mọi lần trước?”

O-umé không muôn anh cởi cái áo ấm ra.

Nhìn người này rồi đến người kia với vẻ mặt ngạc nhiên, người thanh niên hỏi:

“Ông chủ bị cảm hả?” Anh ta chớp mắt.

“Dạ, ảnh bị cảm nhẹ…”

“Người ta nói có dịch cảm cúm ở vùng này. Ông bà hãy cẩn thận.”

“Cám ơn anh.” Yoshisaburo cung kính nói.

Khi Yoshisaburo choàng tấm vải vào cổ của người khách thì được khách nhắc lại: “Chỉ cạo sơ thôi” rồi người thanh niên lại nói tiếp: ‘Tôi có việc gấp lắm, ông hiểu không?” anh ta mỉm cười giả dối. Yoshisaburo lặng lẽ nhìn cánh tay, và kéo một đường dao bằng con dao mới mài.

“Tôi muốn đến nơi đó khoảng mười hay mười một giờ rưỡi,” chàng thanh niên nói tiếp. Anh ta muốn khơi chuyện cho Yoshisaburo nói.

Đột nhiên trước mắt của anh hiện lên hình ảnh của một người đàn bà đê tiện ở một nhà chứa nào đó có cái giọng nói mà mọi người khó có thể đoán được là của đàn ông hay là đàn bà. Khi anh nghĩ đến anh thanh niên này có lẽ sẽ đi đến nơi đó, anh thấy buồn nôn khi cái cảnh trí ở đó lần lượt hiện ra trong trí não yếu đuối của anh. Nhúng sâu cái cọ vào tách nước ấm, anh thô bạo chà bọt xà bông từ cằm lên đến má. Mặc dầu bây giờ người thanh niên đang làm dáng trong gương. Yoshisaburo cảm thấy muốn hành hạ người này.

Cạo một làn dao cùn. Yoshisaburo bắt đầu cạo từ cổ trở lên, nhưng lưỡi dao không đi ngọt như anh muốn, và tay của anh lại run. Hơn nữa, khi anh nằm trên giường cũng không tệ như thế này, nhưng bây giờ đang đứng, mặt nhìn xuống, mồ hôi bắt đầu rịn ra ở mũi. Thỉnh thoáng anh ngừng cạo và gạt nó ở sống bàn tay, nhưng rồi sau đó mũi lại ngứa ngáy và mồ hôi đọng lại và sáp rơi xuống.

Nghe tiếng khóc của con ở trong, O-Umé trở về phòng.

Ngay cả khi được cạo bởi con dao không bén, người thanh niên vẫn điềm tĩnh nhìn mặt của mình. Hình như  nó chẳng làm cho anh đau hay ngứa ngáy. Sự điềm tĩnh làm cho Yoshisaburo trở nên giận dữ. Ngay cả việc dùng con dao của anh để cạo cho êm, anh cũng chẳng thèm thay. Bây giờ anh chẳng để ý đến việc gì nữa. Tuy nhiên,anh lại tỉ mỉ. Ngay cả những chỗ không nhám lắm, anh cũng cạo cho láng. Và càng làm như thế anh lại càng giận dữ. Người của anh từ từ trở nên yếu dần. Cả ý thức cũng trở nên trì độn. Cơn sốt có vẻ trở nên trầm trọng.

Lúc đầu chàng thanh niên còn nói này nói nọ, bây giờ sợ Yoshisaburo nổi khùng nên im lặng. Ngay khi con dao cạo đến ngang thái dương, anh bắt đầu thấy buồn ngủ vì cơn mỏi mệt trong ngày. Kinko cũng dựa vào cửa sổ ngủ. Tiếng ru con của O-Umé cũng ngưng. Hoàn toàn im lặng. Càng về khuya, ở trong nhà cũng như ngoài nhà cảnh tượng như một nghĩa địa. Chỉ còn nghe tiếng liếc dao.

Sự bứt rứt, sự nổi giận bây giờ lại muốn la hét. Cả thân hình lẫn trí óc của anh hoàn toàn kiệt quệ. Anh có cảm tưởng như là đôi mắt của anh thụt sâu vào trong vì cơn sốt. Khi anh cạo từ cổ họng lên má, cái cằm, màng tang, có một chỗ ở cổ không được vừa ý cho lắm. Thật sự thì anh đã sơ xuất làm trầy da. Anh nhìn mặt của người khách, da mặt nhám, mồ hôi từ các lỗ chân lông rịn ra. Ngươi thanh niên đang ở trạng thái ngủ gật. Cái đầu ngửa  ra sau, miệng thì há hốc, để lộ hàm răng vàng khè của anh ta ra.

Yoshisaburo mệt mỏi không thể nào đứng cũng như ngồi. Anh tưởng chừng như có những giọt thuốc độc thấm dần vào các khớp xương của anh. Anh muốn vứt bỏ tất cả, muốn nằm xuống đất để lăn lộn. Nhưng không! Anh đã từng nhủ thầm biết bao nhiêu lần rồi. Và cũng bởi thói quen, anh vẫn đứng vững.

…Từ từ nắm lấy con dao. vết trầy thật là nhỏ. Anh đứng nhìn nó. Lúc đầu chĩ thấy màu sữa trắng ở vết thương, sau đó là màu đỏ, dần dần phủ vết cắt. Đột nhiên máu ứa ra. Anh nhìn nó. Máu ứa ra thành giọt. Khi máu phồng lên quá cỡ của nó, thì xẹp xuống và chảy xuống cổ. Một cảm giác cuồng bạo và giận dữ nổi dậy trong con người Yoshisaburo.

Trong đời Yoshisaburo chưa hề cắt trầy mặt của khách. Vì thế cái cảm giác đó đến với anh thật là mạnh khác thường. Hơi thở của anh trở nên ngắn và nhanh tưỏng chừng như thể xác và tâm hồn của anh đều đi theo vết cắt. .Bây giờ thì anh chẳng biết làm thế nào hơn để đè nén cái cảm giác đó. Máy động con dao, anh ấn lưỡi dao vào cổ. Lưỡi dao nằm sâu trong cổ. Người thanh niên chẳng hề động đậy. Một lúc sau, máu trào ra. Và không lâu gương mặt của ngươi thanh niên trở xám xì. Hoàn toàn kiệt lực, Yoshisaburo gần như là sụm xuống, ngồi vào cái ghế ngay bên cạnh. Cơn khủng hoảng đột nhiên biến mất, và chỉ còn lại cơn mỏi mệt. Đuối sức, anh nhắm mắt lại và trông anh cũng giống như một xác chết. Đêm cũng vậy, nó vẫn như lầ một nghĩa địa. Mọi chuyển động đều bị ngừng lại và không gian rơi vào một giấc ngủ say. Chỉ còn lại chiếc gương soi, cả ba phía, lẳng lặng chứng kiến cảnh tượng này.

VƯỢT BIÊN

LÊ THIỆP

Tác phẩm dưới đây được in trên nguyệt san Người Việt Tự Do số 41, 42, 43, 44, 45 – tháng 09, 10, 11, 12/78 – tháng 1/79

VƯỢT BIÊN

Những dự tính

Khuôn mặt Tư Nhiễn vốn đen sạm, nay lẫn trong bóng đêm Rừng Sát như tối hẳn lại. Anh bó gối nằm trong khoang thuyền nhỏ hẹp, luôn miệng bập thuốc rê. Những ngày qua, tôi cùng anh đốn củi mệt phờ người. Anh chậm rãi:

– Anh nói vậy chứng tỏ anh tin tôi. Tôi cũng nghĩ không thể sống với mấy ông này được nữa, không phải chỉ có làm không có ăn mà tôi thấy mình sống không ra con người. Tôi đồng ý đi với anh. Tôi thấy nhẹ hẳn người, cười nói:

– Lỡ chẳng may thì tù đa.

– Ối mẹ, bây giờ sống như vậy còn quá cha ở tù. Kể từ hôm đó, Tư Nhiễn bắt đầu lao vào âm mưu đào thoát khỏi chế độ Cộng Sản, một âm mưu toan tính thực hiện giữa mạng lưới công an mật vụ dày đặc, một âm mưu mà trước đó cả năm trời chúng tôi đã loay hoay thực hiện vẫn chưa thành.

Chuyện bắt đầu từ tháng Tư năm 1977.

Chiến, một thanh niên quả cảm đã từ Sài Gòn về một làng quê hẻo lánh, làng Phước Hòa nằm cách Vũng Tàu 20 cây số để sống với ý định rõ rệt là mua một chiếc thuyền để vượt biên. Anh đã bước được bước đầu, mua xong một chiếc ghe dài 11 thước, rộng chừng 3 thước với một máy Diesel 20 mã lực. Nhưng một mình anh không đủ lực nên phải đi tìm đồng chí. Không chỉ có một cái thuyền là khơi khơi ra biển. Thuyền chỉ được chứa tối đa 100 lít nhiên liệu, 10 kí thực phẩm và 50 lít nước. Công an kiểm soát thường xuyên. Hễ quá số quy định, nếu nặng thì thuyền có thể bị tịch thu, nhẹ thì không được hành nghề đánh cá ít lâu. Bất cứ ai xuống thuyền cũng bị theo dõi. Du kích lốn nhốn ở bến thuyền xục xạo nhòm ngó. Vô kế khả thi. Mọi người nhìn nhau thở dài trong khi guồng máy nhà nước mỗi ngày một xiết chặt lại. Bất cứ đi đâu cũng phải xin phép. Đến nơi phải trình báo. Ai cũng có thể bị công an gọi ra trụ sở dọa nạt, bắt khai báo. 

Mọi người sống dật dờ. Chiếc thuyền ngày ngày đi đánh cá nhưng lỗ khủng khiếp. Một lít dầu giá chính thức chỉ 20 xu nhưng giá chợ đen tại Phước Hòa lên tới 2 đồng. Một chuyến đi lưới tối thiểu cũng mất 60 đồng, trong khi đó nhà nước buộc phải bán cá cho hợp tác xã với giá 60 xu một kí loại nhỏ, một đồng rưỡi loại lớn. Tại chợ, mỗi kí cá loại nhỏ giá 6 đồng, cá lớn hoặc tôm ngon lên tới 12 đồng. Hoặc là cắn răng chịu những sự vô lý, hoặc là bỏ nghề. Nếu bỏ nghề thì phải bán thuyền lại cho nhà nước với giá bằng 1/20 thực giá. Đó có lẽ là cái mục tiêu sau cùng của nhà nước. Và chúng tôi cắn răng chịu vì những mục tiêu khác. Chiếc ghe vốn là gỗ bằng lăng chỉ dày 2 phân rưỡi mong manh nên sau vài tháng hành nghề thì bắt đầu hư nát. Chiến đã phải xin phép đưa thuyền về Sài Gòn sửa chữa sau khi đút lót cho tên Bảy Lọt, trùm công an 500 đồng. Ngay khi có cơ hội như vậy, một sáng kiến được nêu lên. Chúng ta đi từ Sài Gòn. Nhưng chiến dịch đánh tư sản của nhà nước đã khiến ý kiến này không thể thực hiện được. Màng lưới công an mật vụ ùa hết ra đường, gác khắp hang cùng ngõ hẻm. Xe cộ bị chận xét liên miên. Đi từ Phú Nhuận đến chợ Bến Thành có thể bị công an gọi lại hạch hỏi cả chục lần. Làm sao đưa đồ đạc, thực phẩm, nhiên liệu xuống thuyền được? Đành trở lại Phước Hòa… Anh em lại họp bàn tới lui. Điều này vô cùng nguy hiểm vì phần lớn ai cũng mang bản án treo trên đầu. 

Nguyễn Hữu Hiệu trình diện công an hằng tuần. Nguyễn Hữu Điển mặc dầu đã 33 tuổi, bỗng được giấy gọi đi khám sức khỏe để nhập ngũ. Anh Tám đang lẩn trốn. Tôi bị công an rình rập, bị sở văn hóa nhắn nhe, bị du kích hăm he đủ điều. Anh Phúc đã kí giấy cam kết nếu tìm cách vượt biên sẽ chịu tử hình. Bằng cũng đang không có sổ hộ khẩu … Họ chỉ là nhà văn, nhà báo, giáo sư, làm nhà in… nhưng đều bị coi là có đầu óc phản động vì những gì xa xưa. Bản dịch cuốn Docteur Jivago đã khiến Hiệu bị một năm tù. Thiệp làm báo Chính Luận, một tờ báo bị coi là thân Mỹ, là cực hữu, từng đấu khẩu và thách đố phái bộ quân sự Việt Cộng tranh luận công khai. Ngoài ra lại có nhiều liên hệ với “nhóm quá khích” Sóng Thần, và là Tổng Thư Ký Hiệp Hội Phóng Viên Chiến Trường. Cơ quan bảo vệ văn hóa cũng như thành ủy đã nhiều lần nhắn nhe “nên sống cho đàng hoàng”. Điển làm cho tờ Sóng Thần, tờ báo Cộng Sản căm thù. Tóm lại những cuộc gặp gỡ có thể đưa anh em vào tù dễ dàng. Thường bao giờ cũng có một tiêu đề vớ vẩn được nêu ra trước. “Hôm nay chúng ta nói về giá cả xe đạp thế nào. Chúng ta thảo luận đi kinh tế mới phải đem theo những gì”. Bất thần công an ập vào lôi mỗi đứa ra một góc yêu cầu thuật lại xem ba người ngồi nói với nhau những gì. Nếu lời khai không phù hợp thì phiền. Kết quả của những cuộc thảo luận đưa đến ý kiến đi qua ngõ Rừng Sát. Phước Hòa nằm trên trục lộ cách Vũng Tàu 20 cây số và giáp ranh Rừng Sát bát ngát cây rừng trong một hệ thống sông ngòi chằng chịt. Nơi đây là chiến khu chống Pháp, rồi Bình Xuyên sử dụng làm căn cứ địa, Cộng Sản dùng làm nơi dưỡng quân. Kinh lạch giăng mắc như lưới nhện. Không quen thuộc, lạc vào Rừng Sát như bước vào bát quái trận của Khổng Minh.

Từ ngày 30/4/1975, Sài Gòn không còn ga đốt. Than cũng không. Nhà nước không cho phép tư nhân xây lò hầm than. Cộng Sản rêu rao mỏ than Hòn Gay lớn vô cùng, đứng hàng đầu thế giới. Than quả bàng sản xuất bừa bứa, cả miền Bắc dùng vẫn còn dư. Đồng bào miền Nam sẽ có than quả bàng, vừa tiện lợi, vừa rẻ, không cần than đước nữa. Cái bánh vẽ than quả bàng vậy mà có thật. Mỗi người dân mua được 4 kí than mỗi tháng, tuy có tháng nhà nước cũng quên. Than trộn rất nhiều đất nên chưa nắm mà đã bể từng đống. Khi đi mua, nhân viên nhà nước đổ thêm nước vào than để dễ nắm, nhưng như vậy số kí lô than thực sự lại giảm đi.

Rừng Sát bỗng trở thành đất sống của một số người. Ghe thuyền từ Sài Gòn túa lên Rừng Sát, mỗi ngày hàng trăm thuyền củi về Sài Gòn. Bất cứ cây gì cũng chặt, mắm, xu, bằng lăng, chà là…

Sau ba năm dưới chế độ, Rừng Sát sơ xác tiêu điều đến nỗi chim không có chỗ đậu, khỉ không có nơi trú. Không thể tìm ra một cây xu, một cây mắm nào lớn hơn bắp chân nữa. Bây giờ người ta đành đi mót, chặt những đoạn gốc cây mà trong 3 năm vừa qua người ta đã phạt phần trên rồi.

Một cách chính thức, nhà nước không cho phép đốn củi để bảo vệ rừng. Lâm sản thuộc về tài sản của chế độ. Ai cũng biết vậy, nhất là du kích. Và khi nào thiếu tiền tiêu vặt, tiền nhậu, họ chỉ việc ra chặn bên bờ sông Lòng Tảo, tịch thu củi lậu về bán là túi lại rủng rẻng. Vì miếng ăn, dân nghèo vốn được chế độ rêu rao là thành phần cốt cán vẫn phải lao đầu xuống Rừng Sát chặt để lâu lâu bị du kích tịch thu củi một lần. Nhiều thảm cảnh đẫm máu đã xẩy ra. Hai bố con đem theo cá mắm, gạo hẩm, nước tương xuống rừng chặt củi nửa tháng, đầy một thuyền. Về đến Tam Tông Hiệp, họ bị du kích chặn lại tịch thu. Ông bố vác rìu phạt đứt đầu du kích toan cướp cơm chim rồi tự tử chết ngay tại chỗ. Đừng tranh đấu lý sự hay năn nỉ với du kích. Một du kích với khẩu AK trên tay nói điều gì là chế độ nói, phán bảo điều gì là Đảng phán bảo. Bất cứ nhân viên công an, bất cứ anh du kích mới 16 tuổi đầu nào cũng có thể đóng vai ông tòa. Chỉ một trưởng đồn công an cũng có thể đưa bạn đi tù chung thân. Họ được nhà nước xưng tụng là đầy tớ của nhân dân, là mũi xung kích của chế độ, là thành trì của Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh. Họ bị sử dụng tối đa làm việc ngày đêm với số lương không đủ mua 10 kí gạo tự do. Họ phải sống bằng ngoại bổng để có thể phục vụ đắc lực và nhà nước một cách cố ý đã tạo cho họ nhiều cơ hội có ngoại bổng. Dân đi làm củi biết vậy nên có bị lấy củi ngang xương cũng không dám phản ứng gì vì biết mình đi làm củi thế này là thuộc “thành phần ăn bám, không chịu trực tiếp sản xuất” chưa kể tội phá hoại lâm sản, làm hại đến “sức của” của nhân dân. Du kích cũng biết không nên gắt gao quá, chỉ tịch thu đến mức dân vẫn có thể tiếp tục đi làm củi, nghĩa là chừng bốn chuyến thì tịch thu một chuyến. Cũng phải để dân thoi thóp để còn có chỗ làm ăn.

Vậy thì Rừng Sát có thể được lắm chứ!

Tôi quyết định xuống rừng.

Mò mẫm tôi mua được chiếc ghe tam bản cũ nát với giá cắt cổ. Thư sinh mặt trắng như tôi mua ghe làm gì? Công an nhân dân nhan nhản khắp nơi, chỉ cần một chút sơ ý là bị còng liền. Chiếc ghe mua xấp mua ngửa, không thể xử dụng ngay mà phải sửa chữa. Nhờ đó, tôi gặp anh Tư Nhiễn.

Khi sửa ghe, anh vui miệng kể lể. Anh cũng có hai thằng con đang đi đốn củi ở Rừng Sát. Nhà anh có hai chiếc ghe. Tôi băn khoăn. Liệu có thể tin được con người này chăng?  Trong một xã hội như xã hội Việt Nam hiện tại, ai cũng có thể là tai mắt chế độ. Đủ thứ đoàn thể, từ Thiếu Niên Quàng Khăn Đỏ đến Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh. Từ phụ nữ tiên tiến đến công đoàn, rồi chi bộ Đảng, rồi Cờ Đỏ, đâu đâu nhà nước cũng gài người vào. Ai cũng có thể đưa bạn vào nhà tù, đi cải tạo. Chế độ đã thành công tột đỉnh khi làm cho bạn nhìn đâu cũng thấy có tai mắt của nhà nước, lúc nào cũng có cảm tưởng bị rình mò. Đã có những trường hợp con tố bố để được đặc cách vào Đảng, vợ tố chồng để được đem ra trước đám đông tuyên dương. Nên tin Tư Nhiễn chăng?

Gốc người Tân An, Vĩnh Long, cựu binh sĩ chế độ cũ, anh là người lao động thực sự. Thợ mộc, thợ ghe, chài lưới, làm củi, làm ruộng, cái gì anh cũng làm được hết. Dăm ba cái răng vàng, dáng người thấp đi hơi lạch bạch, chậm nhưng vững vàng, anh ít nói, hay cười và hút thuốc rê liên miên. Vợ sáu con, anh làm không đủ ăn vì không được quyền mua gạo giá chính thức của nhà nước. Giá gạo nhà nước chỉ có 4 hào một kí trong khi chợ đen thì từ 4 đến 6 đồng tức đắt gấp mười lần hơn.

Hai đứa con đầu lòng của anh khám sức khỏe xong chưa biết trình diện lên đường nhập ngũ ngày nào. Âu là cứ thử. Tôi rủ Tư Nhiễn đi làm củi chung với một phần chia hơi quá đáng cho anh ngoài những phí khoản do tôi đài thọ. Anh vui vẻ đồng ý ngay. Sau này anh nói lại với tôi:

– “Không phải vì lợi lộc mà tôi nhận xuống rừng với anh lần đầu. Tôi thấy có cái gì là lạ, nên đi thử xem sao. Nói thật, tôi tưởng anh hoạt động cho Ngụy”.

Ngụy có nghĩa là tà, là cái gì có tính cách tiếm đoạt, nhận xằng phi chính nghĩa. Cộng sản tự nhận là mình theo chính đạo và một cách giản dị, họ gọi tất cả những gì thuộc về Việt Nam Cộng Hòa là Ngụy. Ngụy Quân, Ngụy Quyền, Ngụy Dân.

Mới đầu dân Miền Nam khó chịu vì bị coi là Ngụy. Dần dần, sau những đụng chạm với cán bộ cộng sản, với thực chất của chế độ, của Đảng, tất cả nhận chữ Ngụy một cách hãnh diện. Bất cứ điều gì có vẻ hơn người, đáng tự hào… lập tức được phê “Ngụy mà!”. Có kẻ nhận mình là họ Ngụy, chẳng hạn như tôi là Ngụy Văn Thiệp.

Vậy là một buổi trưa tháng Ba, tôi theo Tư Nhiễn xuống rừng. Thấy tôi lò dò xuống chân cầu Rạch Ông, Tư Nhiễn cười hài lòng. Trông tôi chắc cũng bắt mắt. Mũ tai bèo, áo kaki xám bạc màu sờn cổ, vá vai, quần nhớm nhếch. Anh phê bình:

– Phải vài hôm nữa trông anh mới khá được, trắng quá!

Khởi hành từ cầu Rạch Ông, ghe đi tắt Rạch Đìa qua Phú Xuân. Chúng tôi trang bị máy đuôi tôm Kholer 4. Nếu đi một mình bằng máy đuôi tôm phải mất 10 tiếng đồng hồ mới tới nơi làm củi. Tôi nghe những địa danh mới một cách chăm chú:

– Mình đi theo sông Lòng Tảo, tới ngã ba Đồng Tranh, qua tắc Hông, ba Đọi, tắc Cua, Cù lao Ông Tượng, ngã tư Bàn Thạch, sông Ông Trịnh mới đến chỗ làm củi.

Chiều ý tôi, Tư Nhiễn cho neo ghe ở Phú Xuân, mua gạo, nước mắm, cá khô, thuốc rê rồi vào quán cà phê nhâm nhi chờ con nước xuống. Ghe củi lục đục đến mang theo những khuôn mặt đen xạm mỗi lúc một đông. Có những người đàn ông lặng lẽ ngồi ở đầu ghe đăm chiêu nhìn con nước. Có những người đàn bà chân tay nứt nẻ, khoác chiếc áo dầy cộm vá chằng vá đụp, ngồi im lìm trong khoang thuyền như những khúc cây vô hồn. Xẩm tối, thuyền kéo tới. Đó là một chiếc thuyền trang bị động cơ Diesel 20 mã lực. Những chiếc ghe nhỏ cột dính vào nhau thành một chuỗi dài đeo theo thuyền lớn. Phí khoản phải trả từ 3 đến 6 đồng tùy cỡ ghe. Thế là tối hôm đó, tôi nằm khoèo trong khoang, nghe tiếng nước vỗ bì bõm mặc cho thiên hạ kéo đi.

Đốn củi không phải chuyện đùa mà là lao động tối đa, một công việc cực nhọc. Các loại cây nước mặn như xu, đước, mắm đều mọc trên bùn. Khi thủy triều lên, cây chìm dưới nước và khi nước rút, rễ cây lộ hẳn ra như những chiếc vòi bạch tuộc cắm tua tủa xuống bùn.

Chiếc rìu Tư Nhiễn trao cho tôi nặng trĩu. Chúng tôi bì bõm lội. Rễ cây như bàn chông đâm ngược lên trời. Chân tôi buốt thót. Những con còng, con cá bống dương mắt nhìn. Khắp người tôi, đâu cũng bùn. Nước mặn và nắng tháng Ba làm tôi đỏ như con tôm luộc. Tôi bị hàng trăm vết xước, nước muối ngấm vào xót tê dại.

Tôi không dám tỏ vẻ mệt mỏi, dù tay tôi rã ra, chân tôi muốn khụy xuống. Tư Nhiễn lâu lâu nhìn tôi cười:

– Trông ông học trò quá. Liệu đi mần củi được không?

– Anh làm được thì tôi làm được.

Chúng tôi tìm được một cây bằng lăng tàm tạm lớn. Hai đứa hì hục một buổi, đốn, chặt. Những nhát búa của Tư Nhiễn đi thật ngọt, trong khi tôi trật vuột.

Tư Nhiễn đem theo một mảnh lưới nhỏ nên khi nước lửng, chúng tôi xuống lưới. Rừng Sát thật tuyệt. Chỉ một lát sau, chúng tôi bắt được một rổ tôm tép. Tôi muốn bắt nữa nhưng anh nói:

– Của trời đừng phí. Nhiêu đây đủ rồi, còn để cho tôm cá nó sống. Còn những người đến sau nữa!

Câu nói mộc mạc này khiến tôi xúc động và tin tưởng nơi anh hoàn toàn. Không lý một kẻ tôn trọng quyền sống của loài tôm tép lại có thể phản bội anh em dù chỉ là giang hồ chi nghĩa. Tối hôm đó, sau khi cùng anh rít vài hơi thuốc rê đắng nghét, tôi ngỏ ý định thực sự. Anh cũng tâm sự lại với tôi. Hóa ra chúng ta đều giống nhau. Cuối cùng, tôi cũng như anh, chúng ta chỉ muốn được làm người theo nghĩa bình thường nhất. Chắc chắn anh không biết đến tổ chức Liên Hiệp Quốc, đến ông Tổng Thư Ký Waldheim, đến bản tuyên ngôn nhân quyền, đến hội bảo vệ nhân quyền. Hẳn anh cũng không có ý thức rõ rệt thế nào là tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do lựa chọn nghề nghiệp. Anh không nghĩ đến những thứ đó, còn với tôi, đó là những thứ xa xỉ giống như bom nguyên tử, bom proton đối với một tiểu nhược quốc. Nhưng anh cũng như tôi, tự trong thâm tâm, chúng ta đòi quyền sống đích thực và chúng ta đã bị từ chối, bị tước đoạt. Một thiểu số được tổ chức chặt chẽ, được võ trang đến tận răng, được nhồi nặn bằng một lý thuyết vô luân, ngược đạo lý để cướp đi đời sống từ tay anh tay tôi, tay 50 triệu người Việt.

Võ khí cuối cùng của những kẻ như anh, như tôi là sự từ chối. Bản Hiến Chương LHQ, Hiến Pháp của các quốc gia đã thiếu sót khi không ghi vào đó quyền từ chối tham dự của cá nhân. Vậy thì mình bỏ đi, phải không anh!


 Chuẩn bị

Mục tiêu gần nhất là Singapore, cách Vũng Tàu 600 hải lý. Như vậy, chúng tôi cần tối thiểu 600 lít dầu, vì theo ước tính, tốc độ thuyền của chúng tôi là 6 hải lý/giờ – cách đo tốc độ thuyền do tôi học mót được của một vị thuyền trưởng: Ném một vật nào vào mũi ghe, xem khi vật đó tới mũi thuyền mất mấy giây. Lấy 10 chia cho số giây sẽ ra tốc độ tính theo hải lý. Sau nhiều lần làm đi làm lại, Chiến cho hay vận tốc là 6 hải lý.

Thực tình mà nói phương tiện chúng tôi quá eo hẹp. Một hải bàn cũ nhất cũng phải mua tới 3.000 đồng và khó mà tìm ra. Tôi xục xạo khắp nơi chỉ mua được một chiếc địa bàn quân đội và một chiếc không bàn gắn trên trực thăng.

Sài Gòn đang lịm chết, thật khó tìm ra bất cứ thứ gì. Tôi đã mất một ngày trời mới mua được 2 kí đinh cho Tư Nhiễn với giá đắt gấp 10 lần giá bình thường. Một tấm ván cũng không có và tôi đã gỡ ván sàn nhà để có gỗ chữa những chiếc ghe nhỏ. Đi tới đâu cũng thấy những khuôn mặt sầu thảm và những cái lắc đầu lia lịa. Nhà nước đã kiểm kê, đã niêm phong, không mua không bán gì nữa cả. Không ai dại gì mà bán cho bạn vì có quá nhiều lý do để nghĩ rằng bạn chẳng qua chỉ là một viên công an nhân dân

đến thử và sẵn sàng tịch thu toàn bộ tài sản của họ, lôi họ ra trụ sở công an rồi đi trại cải tạo. Không ai tin ai nữa.

600 lít dầu trong hoàn cảnh như vậy quả là một vấn đề lớn. Ngay tại bến Phước Hòa, trên thuyền chỉ được giữ 100 lít. Sau những so đo suy tính, Chiến cho hay sẽ tìm mọi cách giấu giếm để có thể có 200 lít trên thuyền vào hôm khởi hành. Như vậy tôi sẽ phải xoay sở 400 lít. Trên thị trường chợ đen, tôi vẫn có thể mua giá gấp 5, 6 lần giá chính thức do bọn cán bộ ăn cắp của công đem bán. Khó khăn là chuyển dầu xuống ghe. Chỉ cần xách 10 lít đi đường đã bị chận hỏi. Ba ngày trước khi đi, kế hoạch của chúng tôi suýt vỡ tung vì dầu.

Với hai chiếc xe Honda, 4 người chúng tôi chở 80 lít dầu từ Sài Gòn sang vùng Rạch Ông để chuyển xuống ghe tam bản với Tư Nhiễn đang chờ. Đây là hành động liều lĩnh nhưng không còn giải pháp nào khác. Tôi đi trước chở Nguyễn Phúc. Anh Nguyễn Tiến Hoài đi sau chở vợ Chiến, chị Nhung. Chúng tôi đi lọt gần hết các trạm gác nhờ lúc chạng vạng tối, lúc đường phố tấp nập nhất, cho đến trạm chót cách ghe độ một cây số.

Tôi vừa thoát qua thì nghe tiếng tu huýt ré lên. Tôi rú hết ga chạy luôn. Hoài đi sau lóng ngóng như anh thuật lại về sau, đành bình tĩnh chạy từ từ như không nghe còi. Độ hai phút sau anh bị xe công an rượt bắt kịp ép vào lề. Anh Phúc ngồi phía sau tôi nói khẽ “Hoài bị rồi”. Tôi không trả lời, phóng tới, chuyển gấp hai thùng dầu và đẩy Phúc xuống ghe. Tư Nhiễn ngoáy chèo và sau một lát, chiếc ghe nhỏ lênh đênh giữa sông.

Anh Hoài và chị Nhung bị đưa về trụ sở công an phường. Cả hai đã bàn tính trước, một mực họ khai đi buôn lậu dầu lần đầu tiên. Họ bị hạch hỏi liên miên suốt 4 tiếng. Tôi lòng như lửa đốt, lẩn quẩn bên quán nước cạnh đường. Nếu có gì xảy đến, chúng tôi sẽ phải xử ra sao? Hi sinh họ chăng? Tạm hoãn? Nhưng họ được thả về, chỉ mất hai thùng dầu. Công an không làm biên bản và chắc chắn hai thùng dầu đó sẽ được đem bán chợ đen lấy tiền ăn nhậu. Tham nhũng dưới mọi hình thức được ngầm chấp thuận trong chế độ. Có vậy thì cán bộ đảng viên mới có thể sống để phục vụ.

Công việc sửa soạn mỗi lúc một gây cấn.

Giữa lúc đó một nhân vật nữa xuất hiện: Ông Nguyễn Văn Thông.

Ông Thông xưa là chủ một nhà in lớn, nơi tờ báo tôi làm việc in thuê. Dạo đó chúng tôi gặp gỡ hằng ngày, chào hỏi nhau, nói vài câu xã giao cần thiết. Hôm đó tôi đang tính toán trả tiền sửa ghe trong ụ thì ông Thông đến. Có lẽ vì nhạy cảm, có lẽ nhìn thấy tôi đen xạm, lôi thôi lếch thếch, ông Thông đoán mò. Ông kéo tôi đến cạnh bờ sông, nói nhỏ “cho tôi theo với”.

Tôi trợn tròn mắt nhìn. Ông nói khẽ, rất nhanh, nhưng rõ ràng:

– Tôi nói thẳng để ông khỏi lo. Ông biết tôi từ lâu rồi. Máy móc nhà in của tôi bị tịch thâu sạch. Tôi tính chuồn nên đã sắm được chiếc ghe một bloc. Nếu ông đi, ông cho tôi theo bằng ghe của tôi. Lại thêm một người không muốn sống đời thú vật. Tôi dọ dẫm:

 – Ghe một bloc làm sao đi?

Ông Thông dứt khoát trả lời:

– Máy tôi mạnh 12 mã lực hiệu Yue Long. Ghe tôi dài 8 thước, rộng hai thước, trước là ghe chở hàng trên sông mới sửa thành ghe đánh cá. Tôi biết rằng đi với một chiếc ghe như vậy chín chết một sống. Nhưng thà ra giữa biển chết mát hơn.

Một người cha có trách nhiệm toan tính đem con cái mình gần 10 đứa, đứa nhỏ nhất chưa đầy 4 tuổi, vượt 1.300 cây số đường biển bằng chiếc ghe dài 8 thước, dù ông ta không thông thạo ghe tàu và biết rõ mọi sự nguy hiểm. Đó là sự thực. Người cha không muốn con cái mình trưởng thành trong sự giáo dục để chỉ còn biết nghi ngờ, do thám, báo cáo và bạo lực nên sẵn sàng lôi con mình vào cõi chết để thấy con mình vẫn là con mình, vẫn là người ăn ngay nói thẳng, sống đời chân thật.

Ông Thông đã bỏ lại tài sản do công lao đổ mồ hôi tom góp sau bao năm làm lụng, nhưng thật ra ông may mắn hơn đa số người cùng đi đã phải bỏ lại cha mẹ, vợ con, anh em.

Gia đình ông Thông được chấp nhận nhập cuộc vì với chiếc ghe 8 thước, việc chuyên chở dầu, người, thực phẩm, xuống rừng dễ dàng hơn. Ngoài ra, gia đình có Thái, Chánh là những thanh niên xốc vác, am hiểu sông nước, đường đi lối lại khu vực Rừng Sát, nơi họ đánh cá từ nhiều tháng nay. Cả hai đều là sĩ quan cấp úy quân lực VNCH.

Ngoài nhiên liệu cho máy còn lương thực cho người. Tôi trù tính đem theo 100 kí gạo, một thùng mì bóp vụn, một thùng bánh mì khô, kẹo, đường và sữa bột cho trẻ nhỏ. Kiếm ra những thứ này là chuyện vất vả, chuyển được xuống rừng còn ngàn vạn khó khăn hơn. Dù vậy, mọi việc hình thành mỗi lúc một rõ ràng.

Tôi nắm trong trong tay một tiểu hạm đội gồm ghe lớn một bloc của ông Thông có bến hợp pháp tại Phú Xuân, hai ghe của Tư Nhiễn, cũng hợp pháp nhờ có đăng kí và 3 ghe lậu trong đó có một ghe máy dầu 5 mã lực mà theo thói quen vẫn gọi là ghe F-4, hai ghe nhỏ có trang bị máy Kholer. Kể thì khá hùng hậu những cũng quá nhiều nguy hiểm. Tư Nhiễn nhăn nhó với tôi:

 – Làm sao chứ chết cả đám. Một mình tôi làm gì mà có tới 5 chiếc ghe. Công an phường đã gọi tôi lên hỏi, tôi khai ghe người ta mang sửa. Lối xóm nhòm ngó dữ rồi đó.

Tôi cũng như cuồng. Số dầu mua góp từng 10 lít chưa đủ. Anh Bé, người sẽ là thuyền trưởng của chúng tôi hiện còn kẹt tại công trường lao động chưa về được.

Sau hai ly cà phê đậm đặc, tôi chợt lóe lên một ý nghĩ 

  • “hay là mình thả nổi”.

Tư Nhiễn ngạc nhiên nhìn tôi. Tôi phì cười vì lối nói nhà báo, giải thích:

– Liệu anh và hai đứa nhỏ có thể đem ghe ra khỏi bến rồi lang thang trên sông được một tuần chăng. Anh đậu mỗi nơi một buổi chắc không sao. Tư Nhiễn gục gặc:

– Một tuần thì may ra được, quá nữa thì khó đa. Tôi không bảo đảm đâu.

Thế là nay đây mai đó, ba cha con anh đem đoàn ghe 5 chiếc phiêu bạt khắp vùng Tân Thuận, Cầu Hàng Rạch Đía, Phú Xuân Phú Khánh. Chúng tôi chơi trò gián điệp. Hẹn nhau vào một giờ nhất định ở một địa điểm nào đó. Nếu vì trở ngại gì, 15 phút sau giờ hẹn không có mặt thì một giờ sau sẽ gặp ở địa điểm thứ nhì và nếu vẫn không đến được thì kể như bị tóm. Cứ thế. Tư Nhiễn dưới sông, tôi chạy gắn máy trên bờ. Sống trong nanh vuốt cộng sản, không cẩn thận không được. Có lần tôi đã thoát nhờ có chuẩn bị.

Trong một lần đi dọ thám địa điểm dấu nhiên liệu, tôi bị công an biên phòng chận hỏi. Họ đòi xét giấy tờ. Tôi và Liễn con anh Tư Nhiễn khai đi làm củi không đem theo giấy tờ sợ mất. Họ hỏi đồ nghề đốn củi, tôi lôi ra hai chiếu rìu cán sắt, một chiếc rựa. Họ nhìn khuôn mặt thảm hại của hai đứa tôi rồi vẫy tay cho phép đi. Mỗi lần đi xuống rừng tôi cũng mua ít củi về ra vẻ ta đi làm ăn thực sự. Về đến Sài Gòn bán lại đủ vốn. Chính vì vậy, mặc dầu mọi người đều là anh em cả, nhưng tôi không cho họ biết gì nhiều. Chỉ có tôi và Chiến là biết hết tên tuổi và nhà cửa của mọi người. Có hai người rất thân nhau nhưng chỉ khi lên đến thuyền họ mới biết cùng đi trong một tổ chức.

Chiến từ Phước Hòa về cho hay mọi sự êm đẹp và có thể khởi sự như dự tính. Ngày đi được ấn định là 7-5-78.

Tôi chọn sáu thanh niên khỏe mạnh cho xuống rừng trước vào hôm lễ Lao Động 1-5 và sau ngày oan trái 30-4-78 một ngày là ngày đoạn tang chế độ. Tôi nhớ Hoàng Hải Thủy, một văn sĩ tên tuổi đã bị nhà nước bỏ tù vì có tư tưởng phản động cách đây ba tháng. Trong một bài thơ anh làm, có câu:

Năm năm cứ đến ngày oan trái

Ta thắp hương lòng để nhớ thương.

Bây giờ anh đang bị biệt giam trong xà lim không được tiếp xúc với vợ con. Liệu anh có cơ hội để lắng lòng mình xuống, nhớ thương cho những gì đã mất đi? Tôi, người em trẻ hơn anh đúng một giáp đã được anh khuyên:

 – Nếu đi được, đi đi, rồi sống cho ra con người. Tôi đang cố làm như anh nói.

Và đúng 5 giờ chiều ngày 1-5, sáu thanh niên thuộc phe ta có mặt rải rác trong quán cóc quanh chợ Phú Xuân.

Đúng 6 giờ, như một bóng ma, Tư Nhiễn đầu đội nón mê, áo xanh thẫm, quần xà lỏn, chân đất, từ đâu nhô tới. Tôi bình tĩnh trả tiền ly nước chanh rồi đi ra song song bên cạnh anh. Anh nói khẽ:

 – Không xuống bên kho, có ghe du kích, phải xuống mé chân cầu…

Tôi bảo anh:

– Cũng được. Đợt đầu 3 đứa đi với anh xuống trước. Anh bảo Cang lên đón tôi đợt hai. Tôi chờ ở đây nghe. Tư Nhiễn gật đầu quay đi. Nhìn thấy tôi ra hiệu, ba thanh niên băng đường nhựa theo anh. Hai phút sau, họ mất hút dưới hầm cầu. Tôi cẩn thận đi ngược lên trên cầu theo dõi. Con thuyền nhỏ bắt đầu xoay. Tư Nhiễn đứng mũi, phía sau. Điển chỉ còn mặc quần xà lỏn cũng cố chèo. Vốn là một tay chụp ảnh lành nghề, Điển đã xung phong đi chuyến đầu và đã thích hợp với hoàn cảnh thật mau. Cũng áo rách bạc màu, cũng nhún lên nhún xuống ngoay ngoáy mái chèo như ai.

Tôi an tâm quay xuống chỗ cũ. Từ Phú Xuân về đến trung tâm Sài Gòn có xe đò nhưng chỉ đến 6 giờ là hết. Tôi chờ Cang đến 6 giờ 30 lòng nôn nao. Ba người kia không hay biết gì, gọi thêm một hai chén chè đậu xanh ở các quán bên cạnh. Trời tối dần, 7 giờ vẫn chưa thấy. 8 giờ 30 vẫn thấy biệt tăm Cang. Chuyện gì xẩy ra đây? Bị công an bắt? Vô lý, vì với cảnh ghe củi tấp nập như vậy, công an không thể nào phát giác ra đám người của tôi. Tại sao Cang không lên đón tôi. Tôi liều lĩnh sục sạo trong đám ghe lô nhô trên mặt nước đêm. Không thấy dạng cha con Tư Nhiễn. Trời vừa sập xuống nhưng đã tối thui vì cuối tháng âm lịch. Tôi như nổi điên, người nóng bừng bừng, sao lại có thể như thế. Chuyện gì? Tôi bất chấp an ninh đứng trên một tấm ván bắc nhô ra ngoài gọi vang “Anh Nhiễn ơi, Cang ơi!” Dăm ba chiếc đầu nhô ra từ các khoang thuyền gần đó ngó lên, không một lời đáp. Mặt sóng vẫn lao xao thuyền bè nhưng đoàn thuyền của tôi biến mất không tăm tích. Tôi coi đồng hồ, 8 giờ 30. Đành vậy.

Tôi quay lại chợ Phú Xuân ra lệnh cho ba người đang chờ đi về. Họ ngơ ngác. Tôi nói nhỏ:

– Cứ yên chí, sẽ giải quyết sau, bây giờ về.

– Nhưng hết xe đò rồi.

– Thì đi bộ. Tôi để hai người đi trước. Khuất bóng họ, tôi và người nữa cất bước. Chân tôi nặng như chì, đầu tôi váng, mắt tôi hoa, nhưng tôi vẫn cố tỏ ra bình tĩnh để những người khác đừng lo sợ.

Theo như dự trù, 5 chiếc ghe sẽ chở 7 đứa vuợt ngã ba sông Nhà Bè qua tắc Ông Mai, nơi đó có ghe của Chánh, Thái chờ sẵn với hai người khác. Ghe này sẽ kéo 5 ghe nhỏ như bất cứ đoàn ghe nào khác xuôi xuống rừng làm củi. Tư Nhiễn chưa gặp Thái. Thái cũng chưa biết Tư Nhiễn. Họ đều trông chờ tôi trong khi tôi lết bộ trên đường. Rồi đây chuyện sẽ ra sao? Tôi bước thấp bước cao, lòng rối như tơ vò. Trời hại ta chăng?

Hôm nay là ngày Lễ Lao Động nên thỉnh thoảng chúng tôi lại đi qua một đám người đang phải thưởng thức văn nghệ quần chúng ở những sân khấu lộ thiên bên cạnh đường. Dù không muốn nghe, nhưng những tiếng hát the thé vẫn rú lên lọt vào tại tôi

“…Việt Nam, Hồ Chí Minh…” làm như hai chữ đó biểu dương cùng một hình ảnh. Ông Hồ đang được thánh hóa bằng mọi giá. Trẻ con thì “đêm qua em mơ gặp Bác Hồ… Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng“.

Ở báo chí thì trên trang nhất luôn phải có hình ông ta, lúc ôm nữ anh hùng chống Mỹ, lúc  nựng anh hùng lao động, khi đi guốc mộc tưới cây vú sữa, khi cầm gậy điều khiển dàn nhạc đại hòa tấu … Lời ông ta nói là thánh kinh đóng khung khắp nơi, kể cả những lời ông ta nhại lại của cổ nhân, ăn cắp của sách xưa… Chướng tới nỗi một người dân nào đó của thành phố phải phát biểu:

– Một ngày không thấy hình Bác, không đọc lời Bác thì ăn không ngon, ngủ không yên, đi cầu không ra, nói năng vô duyên, soi gương thấy mặt mũi đáng ghét.

Tôi bật cười vì chuyện đám trẻ nhỏ miền Nam so sánh ông Hồ với thần tượng của chúng khi thấy ông múa gậy điều khiển dàn nhạc. “Thấy Bác Hồ như Tề Thiên Đại Thánh cầm thiết côn mà múa máy tưng bừng.” Dù được gọi là Tề Thiên, được tôn là Đại Thánh thì thực chất vẫn chỉ là một con khỉ.

Rồi chúng tôi cũng vượt 13 cây số về tới ranh Sài Gòn lúc 11 giờ đêm. Mặc dầu nhân ngày lễ lớn, lệnh giới nghiêm được bãi bỏ, nhưng phố xá vắng tanh không hàng quán, không kẻ đi người lại. Sài Gòn của tôi đang bị chết trong nôi chế độ.

Suốt ngày hôm sau, tôi chạy đôn chạy đáo, lùng kiếm Tư Nhiễn và đoàn ghe cho tới xẩm tối mới chộp được anh. Tôi đã thảm, trông anh còn thảm hơn. Mắt anh lờ đờ, mặt vàng, gò má nhô lên. Chỉ sau 24 tiếng, anh như sút hẳn đi. Câu chuyện dần dần sáng tỏ.

Tinh thần anh căng thẳng đến nỗi anh dẫn ba người xuống rồi băng luôn qua ngã ba Nhà Bè đến tắc Ông Mai. Neo ghe xong xuôi mới nhớ phải đón thêm một toán nữa. Anh và Cang trở lại Phú Xuân thì đã trễ. Biết làm sao hơn? Ai cũng sợ hãi cả, đâu chỉ mình anh. Tôi cố trấn an anh, yêu cầu ba người kia tạm trở về và thông báo cho Chiến hay có trục trặc.

Đúng lúc đó, nhà nước hạ đòn chí tử, đánh vào quảng đại quần chúng: Đổi tiền! Mỗi người đổi được 50 đồng. Một gia đình không được đổi quá 500 đồng. Ai có quá số qui định phải gửi vào ngân hàng nhà nước. Dân thì ai cũng biết tiền gửi ngân hàng nhà nước kể như mất toi. Họ đã có kinh nghiệm một lần rồi. Muốn rút tiền ở ngân hàng phải làm đơn nêu rõ lý do rồi chờ nhà nước cứu xét. Có người xin rút tiền để làm tang bố nhưng hết giỗ đầu mới được cán bộ gọi tới dậy rằng không nên phí phạm vào chuyện ma chay, chỉ nên dùng tiền để sản xuất. Tất nhiên không có chuyện lãnh tiền. Chuyện vô lý đó đã xẩy ra ở Việt Nam như bất cứ chuyện vô lý nào khác, vô lý đến độ không tin được nhưng vẫn xẩy ra. Vì đổi tiền, lệnh giới nghiêm được áp dụng suốt ngày 3-5-78.

Tôi chán nản. Hết cách rồi chăng? Tối hôm đó, Chiến đột ngột từ Phước Hòa về. Hai đứa nhìn nhau. Không lẽ đã thua, bỏ cuộc? Đâu được. Tôi và Chiến quyết định bạo. Đi ngay tại Sài Gòn, không chần chờ.

Cuộc họp được triệu tập sáng 4-5, có cả Tư Nhiễn, Thái, Chánh để tiện bề phối hợp. Kế hoạch thành hình chớp nhoáng và đầy mạo hiểm. Sẽ đi từng đoàn nhỏ, hai tới bốn người, xuống ghe ngay tại Sài Gòn.

Bốn người đầu tiên đi hụt nay xung phong. Tôi, Thái, Chánh, Điển liều mình vác ghe chở dầu chuyển xuống các ghe tam bản đậu ở Cầu Hàng. Nội ngày đầu, 300 lít đi trót lọt. Hú vía, thế là xong chuyến đầu và đoàn ghe đổ người chôn dầu ở chỗ chỉ định xong trở về ngày 6-5. Họ để lại một chiếc ghe với đứa con lớn của anh Tư Nhiễn. Đợt nhì bắt đầu liền lập tức. Xẩm tối 6-5 chỉ một mình anh Nguyễn Phúc được bốc đi khi anh Hoài, chị Nhung bị bắt. Biến cố này khiến tôi không dám ngông nghênh nữa, tạm hoãn chở dầu.

Rạng sáng 7-5, bốn người nữa xuống ghe để gặp và cùng đi rừng với anh Phúc. Họ sẽ gặp chiếc ghe lớn của ông Thông ở bên kia vàm Phú Xuân. Non nửa số người đã thực sự xa gia đình, dấn thân vào cuộc phiêu lưu. Tôi đã nhìn họ lo lắng bước xuống ghe. Tôi cầu nguyện.

Khi mà niềm tin bị võ lực toan tận diệt thì nó bùng lên mãnh liệt. Tôi sinh ra trong một gia đình đạo Phật nhưng chưa bao giờ đi chùa và luôn nhìn sư sãi bằng nửa con mắt. Nhưng lần này tôi cầu nguyện bằng tất cả tấm lòng thành. Tôi không cầu nguyện cho tôi. Tôi mong mỏi an bình cho anh em tôi.

Trong số những tiều phu bất đắc dĩ đó có hai cô con gái ông Thông. Họ là sinh viên nhưng quyết định bỏ ngang khi bị gọi đi học bổ túc chính trị. Một người có đầu óc bình thường biết ăn biết ngủ, biết thế nào là phải trái sẽ phải điên khi nghe những bài giảng chính trị của cán bộ nhà nước. Mọi thứ bị xuyên tạc đến tận cùng. Lịch sử bị bóp méo, tôn giáo bị bôi nhọ, triết lý bị bẻ cong để chung qui đi tới một kết luận: “Chúng ta phải phục vụ chế độ không suy nghĩ, không điều kiện. Chúng ta phải cúi đầu xuống mà lao động không cần lý luận vì mọi suy nghĩ đã có đảng lo liệu”. Khi người ta dạy toán cho trẻ nhỏ bằng cách cộng xác chết thì người ta phải coi cây súng là tất cả. “Một chiến sĩ buổi sáng diệt 8 tên ngụy, buổi chiều bắn 6 tên khác. Hỏi tổng cộng có bao nhiêu ngụy nhào?”

Điểm hẹn

Xe đến bến, tôi vẫn thừ người và giật mình khi nghe người lơ xe nhắc “đến bến rồi ông!” Phú Xuân giờ này đã tấp nập vì ghe lưới chở cá về bán, ghe củi sửa soạn theo con nước xuôi. Tôi vào tiệm gọi một tô bún. Vừa cầm đưa lên thì chị Lan dẫn hai đứa nhỏ vào. Quay sang thì chị Nhung lếch thếch bồng bế đang hỏi đứa em gái ăn gì. Nhìn ra ngoài cửa, chị Điển bế con đứng bên kia đường với anh Hoài cũng toan ghé. Tôi lắc đầu và họ hiểu, đi chếch sang nơi khác. Tôi lo lắng nhìn viên công an đang đứng phất phơ trước trụ sở công an nhân dân, Thế này thì quá lắm.

Tối hôm qua đã dặn đi dặn lại phải ngồi gần bến xe, sao lại đút đầu hết vào chỗ đầy rẫy công an như vậy? Tôi im lặng ăn tiếp tô bún. Trụ sở công an trước mặt nhớp nhếch tường vôi lở, mái ngói rêu đen xẫm đầy vẻ chết chóc. Những tên công an quần xà lỏn cầm ca chạy tới chạy lui có vẻ đi đánh răng hay kiếm nước sôi pha cà phê. Hàng rào kẽm gai từ bao đời vẫn như vậy. Thật là tiện. Chế độ được thừa hưởng trọn vẹn những cơ sở cũ của “ngụy” và tôi nhớ đến Đỗ Phủ:

“Lâu đài đệ trạch giai tân chủ
Văn vũ y quan dị tích thì”

Lâu đài nhà cửa nay chủ mới. Mũ mão xênh xang khác lúc xưa. Đỗ Phủ dù là thi hào nhưng lúc này có lẽ cũng không bằng Tư Nhiễn đối với tôi. Anh lừ đừ đi vào tiệm, kéo ghế gọi một cái xây chừng. Uống xong, anh thản nhiên đi ra, lẫn vào đám đông trong chợ. Tôi gọi trả tiền, theo hút anh:

– Xong chưa?

– Rồi, ghe ở dưới cầu. Đợi tôi mua ít đồ ăn đã. Hai đứa tôi mà cả, cò kè và ôm một lô rau cải, cà chua ra khỏi chợ. Tôi hất đầu ra hiệu. Bà Lan, bà Chiến, bà Điển lũ lượt kéo nhau ra như đi hội.

Trước hoàn cảnh đó. Tư Nhiễn lanh trí nói bô bô:

– Ha, về chú Tư chơi nghen. Và anh đưa cánh tay gân guốc bế đứa con anh Chiến:

– Cười coi nào. Xuống ghe về chú Tư ăn cơm cá chịu không? Chú bé toét miệng cười. Tôi dắt đứa con chị Lan trong khi anh Hoài bế đứa con anh Điển. Tôi cũng giả lả:

– Cha, đông đủ. Mua thêm bánh mì về ăn cà ri mới đủ đa. Mấy người lận. Anh Tám ở ngách nào chui ra chẳng rõ góp tiếng:

– Đủ rồi anh Sáu. Đi không kẻo nước lên không qua được vàm, trễ đa.

Nếu có anh cớm nào tò mò thì sẽ phải hiểu tụi tôi đi ăn giỗ, nhất là chị Điển, tay ôm ba thẻ hương. Chị cho hay có khấn hễ ra tới biển sẽ đốt hương tạ trời! Tôi lao xuống nước ghìm chiếc ghe tam bản sát bờ. Anh Tám tiếp tay tôi giúp trẻ và các bà lên. Chắc trông họ có vẻ lúng túng nên hai ba chiếc thuyền cạnh đó nhiều người nhô đầu lên ngó. Nhưng Tư Nhiễn nhanh như cắt, vừa thấy người chót lên là anh xô ghe ra. Ba phút sau chiếc ghe trôi từ từ ở giữa sông. Tôi đứng mũi, cầm chèo, chèo. Từ phía bên kia sông hai chiếc thuyền nhỏ khác lừ lừ tách bến. Như cảnh ráp vệ tinh trên không gian, tôi chụp vội chiếc dây của Cang vứt cho, ghìm chặt. Cang chui vào trong, cho chiếc máy F-4 nổ và chúng tôi lao vào sông lớn.

Nhẹ người. Tôi đếm. Trời đất. Mười một mạng già trẻ trên ghe tam bản tí teo. Bằng, Tùng, Bình và cô bé Oanh ló đầu ra toét miệng cười với tôi. Tôi cười lại nhưng lòng tôi không yên. Còn quá nhiều bất trắc trước mặt. Theo kế hoạch thì 5 giờ chiều, ghe của Thái, Chính mới gặp ghe tôi tại ngã ba Đồng Tranh. Chúng tôi đi sớm như vậy vì thuyền ghe quá nhỏ không thể qua vàm Phú Xuân lúc nước ngược được. Tôi hỏi Tư Nhiễn.

– Mình làm gì từ giờ cho đến 5 giờ chiều? Anh cười:

– Ủa, chứ mình đi ăn giỗ mà. Yên trí.

Mười giờ sáng, ba ghe chúng tôi tấp vào bờ ruộng. Nơi đây có một căn nhà lá bỏ hoang. Có thể một gia đình nào đó đi làm ruộng, để trực tiếp sản xuất nhưng chịu đói không thấu đã bán xới về thành phố. Chẳng ai còn ngạc nhiên vì một chuyện như vậy.

Khi bộ đội lếch thếch vào Sài Gòn, dù thế nào dân Việt cũng thở phào “Thế là hết súng đạn!” Họ tính đến tương lai hòa bình. Nhà nước hết lời cổ võ về đồng ruộng trực tiếp sản xuất, xây dựng đất nước. Hợp lý quá nhất là đối với những ai đã phải bỏ về thành phố trước đây để né tránh bom đạn. Rất nhiều gia đình ở thành phố bán nhà bán cửa gom góp vốn liếng về quê.

Thực tế đã phản lại giấc mơ nhỏ bé của họ. Hạt giống mua không ra. Phân bón chính thức không có, mua ở ngoài đắt gấp mười lần. Chế độ không biết gì ngoài việc đo ruộng, đánh thuế. Họ không được đảng và nhà nước nâng đỡ lại còn bị thiên tai liên tiếp 3 năm qua, lúc thì hạn hán, lúc thì mưa lũ. Cơm không có ăn, áo không có mặc, ốm đau không thuốc men, học hành là chuyện xa vời. Họ đành trở lại thành phố bất chấp mọi hậu quả. Những nạn nhân này trở thành kẻ sống bên lề xã hội vì thiếu giấy tờ cư trú hợp lệ. Họ không có nhà nên phải ngủ lề đường, hè phố. Họ không được phép mua thực phẩm nên phải xoay sở, bữa có bữa không. Vốn là những người hiền lương chất phác, họ bị chế độ đẩy vào cuộc sống ngoài vòng pháp luật, bất lương, trộm cắp đủ nghề. Thành phố Sài Gòn tràn ngập người ngủ đường. Tối tối, người ngủ hàng ngang dãy dọc ở nhà ga xe lửa, dọc theo các đường phố Lê Thánh Tôn, Gia Long, Công Lý, Tự Do… Thỉnh thoảng công an lại bố ráp, đem xe cây đến xúc họ vất vào một vùng hẻo lánh nào đó để “trực tiếp sản xuất”. Nhưng họ lại trốn về Sài Gòn vì chỉ ở đây, dù có đói khổ nhưng không chết. Họ không sợ hãi vì họ không còn gì để giữ gìn. Họ nay như con thú hoang, lòng rỗng, chỉ mong có gì nhét vào cái dạ dày lép là đủ.

Chúng tôi vào trong căn lều trống nấu cơm ăn. Tôi để anh Tư Nhiễn và Bằng nhúm lửa, nhờ chị Lan, chị Điển dọn sạch căn lều và tôi đi về phiá sau xem xét. Cỏ tranh mọc kín một vùng lớn. Không một bóng người, ngoài dăm ba con cò trắng chao đi chao lại. Tôi tạm yên tâm trở vào. Tư Nhiễn có lẽ đã lấy lại phong độ ngày nào, vui vẻ bông lơn với trẻ con. Anh đưa tụi nó đi bắt còng, tắm sông. Những gương mặt non dại bừng lên niềm thích thú. Cái gì đối với chúng cũng mới lạ.

– Con gì đây, chú Thiệp?

– Con cua.

– Sai. Bác Tư bảo con còng.

– Con còng và con cua khác nhau làm sao?

– Con còng nhỏ, con cua lớn.

– Con này lớn sao lại là con còng?

– Các cháu đừng làm chú điên đầu. Cu Tí ra nói với mẹ:

– Chú Thiệp không biết gì hết trơn. Tôi nhìn Oanh lắc đầu. Cô bé cười hỏi:

– Sao chú lắc đầu?

– Cháu trắng quá. Cháu đẹp thế này, lỡ công an hỏi chú biết nói làm sao. Đi ăn giỗ sao lại quờ quạng ở đây. Anh Tư Nhiễn nhìn tôi nhăn:

– Sao gì ông cũng sợ vậy. Nó hỏi thì mình bảo đi Phước Hòa, bây giờ nước lớn phải táp vô mé chờ nước ròng. Sợ quái gì. Giờ này tôi hết sợ rồi. Quả tình tôi cũng không biết xoay sở ra sao nếu đụng độ du kích. Ghe nào trông cũng có vẻ ghe địch cả. Hồi sáng một ghe tuần của bộ đội đã lướt ngang tụi tôi, ngó ngó rồi bỏ đi luôn làm mọi người đứng tim. Thôi đành vậy. Nắng mỗi lúc một nhạt. Con chim bói cá đậu trên ngọn chà là nghiêng đầu nhìn xuống sông rình rập và như một mũi tên, nó lao vào mặt nước nhấp nhô. Cảnh thật thanh bình nhưng tâm hồn tôi xao động. Anh Tư Nhiễn nghĩ xa đi nấu một nồi cơm lớn nhưng lúc đó chẳng ai ăn một miếng. Chúng tôi phập phồng cho chiếc ghe của Thái. Năm giờ cũng lại anh Tư Nhiễn phát giác đầu tiên khi chiếc ghe cách xa chúng tôi cả cây số. Anh la nhỏ:

– “Nó tới!”. Chúng tôi tản xuống ba ghe tách bến. Nửa giờ sau, lai một vụ ráp nối nữa diễn ra trên sông. Tháng này trời mau tối. Độ nửa giờ đã không nhìn rõ mặt nhau. Chúng tôi chuyển hết đàn bà trẻ con sang chiếc ghe lớn để họ nằm trong khoang kín. Tôi cũng nhảy qua ghe lớn họp với ông Thông và anh Bé. Ông Thông kể:

– Ở Phú Xuân, tụi tôi bí quá. Xuống chỗ ghe đậu không được vì quá nguy hiểm. Đành xuống bến chợ. Trời đất, ông nghĩ lũ lượt mười lăm người lớn bé xếp hàng trèo xuống ghe có sợ không? Chắc là có gì che mắt tụi nó chứ không thì chết cả lũ. Tôi bảo:

– Mình làm vụ này hoàn toàn dựa vào yếu tố bất ngờ. Công an mật vụ không nghĩ mình khơi khơi vượt biển trước mặt tụi nó. Chuyện đó qua rồi, nhưng còn từ giờ tới đêm nữa. Tôi trình bày kế hoạch dự trù. Đến ngã tư Bàn Thạch 10 giờ đêm. Đón đám ở rừng và đi moi dầu lên. Một giờ sáng đi ra bãi cát vàng để gặp Chiến. Chiến hẹn sẽ chờ tối đa là đến 3 giờ sáng. Ông Thông hỏi:

– Lỡ ra không gặp anh Chiến thì sao?

– Thì về, ông đừng sợ. Hẳn là ông Thông sợ, nhưng đâu chỉ mình ông. Tôi cũng sợ và chắc mọi người đều sợ. Ai nấy cố thu mình thật nhỏ và im lặng. Những chiếc ghe chài lưới đang hành nghề nhấp nháy đèn sáng. Đoàn ghe kéo nhau đi hiên ngang như bất cứ đoàn ghe nào. Sóng nước rì rào. Tôi được ông Thông cho một cục kẹo thật ngon. Ông nói nhỏ:

– Kẹo cũ còn lại, tôi để dành mãi.

Đến khúc sông lớn rẽ vào ngã tư Bàn Thạch, gió nổi dữ đội và sóng lắc các ghe nhỏ như muốn lật. Một chiếc mũ lá bị thổi bay xuống sông suýt chút nữa cuốn luôn hai người đang run lập cập. Chú bé con chị Điển khóc ré lên. Tụi nhỏ đã được uống Phenergan pha trong sữa và nửa viên Valium. Lý ra chú bé phải ngủ say, không hiểu chú mơ thấy gì mà khóc. Tôi dọa chị Điển:

– Chị lo dỗ nó, lát nữa tới chỗ nguy hiểm mà nó khóc, tôi quăng hai mẹ con xuống sông.

Chị Điển im lặng vỗ về đứa nhỏ. Khi đến điểm hẹn ở một ngã tư Bàn Thạch, đoàn ghe neo lại. Tôi và Tư Nhiễn lấy ghe nhỏ đi đón người. Họ ở sâu trong một lạch nhỏ. Đêm khuya, những chiếc ghe củi nằm im lìm hai bên bờ. Thỉnh thoảng từ trong ghe có tiếng ho khan vọng ra. Tôi và anh Tư cố chèo thật êm. Vào sâu trong lạch, nước cạn, ghe không đi được nữa. Tư Nhiễn ngưng chèo. Anh im lặng quan sát rồi nói nhỏ với tôi:

– Đúng lạch này. Cây chà là ở chỗ kia. Tụi nó ở đâu hè? Tôi nhìn anh lo lắng.

Rừng Sát như người muôn mặt. Thủy triều lên, chỗ nào cũng chỉ thấy nước, thủy triều xuống, lạch trơ bùn, sông cạn còn một nửa. Địa thế không lúc nào giống lúc nào. Hay Tư Nhiễn lầm? Chung quanh tôi vắng lặng. Không khí mang vẻ đe dọa. Những cây chà là đen thẫm trong bóng đêm im lặng hoàn toàn. Tư Nhiễn cắm cây chèo xuống, cột ghe. Tôi hiểu ngay, cùng anh đi xuống. Bùn ngập ngang đùi rất khó đi. Hai đứa bì bõm lội. Anh em tôi đâu? Độ nửa tiếng tôi thở dốc. Anh Tư đã lội lên phía cao tìm tôi. Tôi không biết xoay sở thế nào nữa. “ì, ì, ì” Tôi nghe ngay ra giọng anh Tư và cố lắng nghe tiếng đáp lại. Giọng hú của anh ầm vang trầm đi thật xa nhưng không lời đáp. Tôi tiếp tục bì bõm, bùn non lên đầy người, tôi ngã lên ngã xuống và lạnh run. Không lẽ họ bị rồi? Nếu bị thì khi tôi mò vào, khó thoát. Lòng rối như tơ vò. Tôi thấy mình bơ vơ giữa đêm đen. Tôi nghe một tiếng hú nữa. Không nghe đáp lại. Một lát nghe anh Tư hét lớn: “Liễng ới ời…” Tôi bật cười, dù không có gì đáng cười trong hoàn cảnh này. Tôi nhớ đến lúc bị bỏ quên ở Phú Xuân và cũng hét lớn như anh Tư. Vậy là bất chấp rồi còn gì. Tôi suy nghĩ rồi quay lại chỗ cột ghe. Đành vậy. Tư Nhiễn cũng trở lại. Hai đứa nhìn nhau lo lắng. Tôi hỏi:

– Có chắc lạch này không?

– Chắc mà! Chỗ này tôi thuộc như nhà tôi vậy.

Tụi nó phải hiểu rằng tối nay mình đón. Nước ròng cạn thì phải chèo ra ngoài lạch chứ. Kỳ quá. Tôi quyết định trở ra gặp Thái. Thái cho hay du kích vừa hỏi. Tim tôi như đứng lại khi không thấy chiếc ghe F-4 đâu và lắc lắc đầu ra hiệu. Thái cho hay tôi và Tư Nhiễn đi lâu quá nên Cang và anh Tâm đã đi đón những người kia. Họ tưởng tôi và anh Tư đã bị rắc rối.

– Thế du kích không xét thuyền à?

– May quá, chúng nó nhìn vào chiếc ghe nhỏ thấy hai người đang tát nước nên không xét. Thái nhảy sang ghe tôi và chúng tôi quyết định cứ moi dầu lên đã rồi tính sau. Nước mỗi lúc mỗi lên. Tôi nhìn. Gần một giờ sáng. Có thể Chiến đã ra điểm hẹn. Chúng tôi cho máy đuôi tôm nổ và kéo hết ga. Tiếng nổ tức tốc vang động đêm khuya. Đến bụi cây dấu dầu. chúng tôi quan sát. Vắng hoe. Tôi và anh Tư nhảy xuống mò và tìm thấy ngay. Mừng quá, tôi quên cả lạnh, hụp lên hụp xuống cố moi từng thùng dầu chôn dưới bùn. Thái đứng trên ghe luôn mồm giục. Khi thấy thùng chót đã moi lên. tôi lấy manh chiếu cói phủ hết ghe và trở lại. Dầu sao thì cũng tạm yên tâm một phía và khi về đến nơi, tôi nhìn thấy chiếc ghe F-4 cột cạnh ghe ông Thông. Điển ló đầu khỏi tấm ván phủ ngụy trang ngó tôi, cười nói khẽ:

– Khá lắm. Tôi cười lại:

– Còn gay lắm. Bấy giờ đã hai giờ sáng. Tôi ra lệnh nhổ neo. Nước lên nên chúng tôi ngược sóng. Mặc dầu Thái đã kéo hết ga, tôi vẫn thấy chậm. Đoạn đường còn lại, đi nhanh cũng mất 45 phút. Thấy tôi run lập cập, anh Tư đưa tôi một điếu thuốc đốt sẵn. Hơi thuốc đắng nhưng làm nóng người. Tôi yên lặng kéo từng hơi dài, đầu óc trống rỗng. Đứa bé con chị Điển ré lên nhưng tiếng ré bị chận ngang. Chắc nó bị bịt miệng. Tôi nhớ đến những câu chuyện đã xẩy ra mà rùng mình. Đã có những người trưởng đoàn nghiến răng bóp cổ đứa bé đến tắt thở trước mặt người mẹ. Vì an toàn cho cả đoàn, người mẹ đành nhìn con chết không ta thán. Liệu tôi có dám? Tư Nhiễn huýt tôi nói nhỏ “Thấy rồi”. Thuyền của Chiến đậu giữa ngã ba.

Sau này anh thuật lại đã chờ từ đúng một giờ sáng. Đến ba giờ không thấy chúng tôi, anh sửa soạn nhổ neo thì đoàn ghe mới ló dạng. Anh nói “các anh trễ năm phút thì tôi đi. Neo lâu quá e nguy hiểm”. Bất chấp mọi tính toán, chúng tôi cập ngay vào thuyền lớn. Tôi, Tư Nhiễn và Thái lo chuyển dầu. Những người khác lo đưa đồ đạc, đàn bà và trẻ thơ lên các khoang phía trước. Giọng Chiến như rít giữa hàm răng “Lẹ lên! Chết cả đám bây giờ”. Ai nấy đều quýnh. Bà Thông bị ôm ngang eo ếch dúi xuống khoang. Ai kiếm được chỗ nào cũng chui tuốt vào. Có lẽ chỉ độ vài phút, Chiến đã nổ máy. Thuyền rung mạnh và hướng mũi ra cửa. Tôi ở trong hầm máy nhìn ra. Trời đã lờ mờ sáng. Phía trên boong thì chỉ có Chiến anh Bé và Nghi. Mọi người ngồi, nằm chồng lên nhau co rút trong ba khoang thuyền nhỏ hẹp.

Thuyền dài 11 thước, ngang 3 thước, quá nhỏ để chở 48 người. Mùi dầu xông lên nồng nặc trong khoang máy. Hơi máy tỏa ra hừng hực. Chỉ một lát người tôi ướt đẫm mồ hôi. Ngó sang cạnh, Hiệu đang gục xuống ói mửa. Tùng, Đàn mặt xanh như tàu lá hỏi tôi:

– Anh có dầu cù là không? Tôi an ủi:

– Cố lên! Một lát nữa lên trên khỏe ngay.

Chiếc thuyền chồm lên hụp xuống theo con sóng, làm đổ ngả nghiêng mọi thứ trong khoang. Dạ dày tôi bóp thắt. Tôi cố dằn. Chiến ngó xuống hỏi tôi:

– Thiếu ai không?

– Đủ cả. Trong này ngộp quá thở không được.

– Ráng mà thở. Lên trên này sao được. Nó có ống nhòm, thấy quá ba người trên ghe phiền lắm. Tôi ráng thở và mồ hôi túa ra. Đàn năn nỉ:

– Cho em lên một tí thôi. Em sắp xỉu.

– Không. Con thuyền vẫn nhảy sóng, nhồi tụi tôi như nhồi bông. Chiến lại thò đầu xuống bảo:

– Sắp qua đèn phao Cần Giờ, chỗ này đáng sợ nhất. Các ông đừng có thò đầu ra. Chết cả đám.

– Yên trí, biển động hả. Có PCF ở đó không?

– Không. Biển hơi động. Tí nữa là êm liền.

Chiến đã nói dối cho tôi yên lòng. Biển hôm đó động dữ dội. Bình thường tại đèn phao Cần Giờ, lực lượng công an biên phòng neo một chiếc PCF tức nôm na gọi là tàu đổ bộ, tàu há mồm. Một tháng trước đây, một đám bạn bè chúng tôi đã bị chặn bắt tại chỗ này. Người trưởng đoàn nhảy xuống biển tự tử cùng với người tài công lái ghe. Tôi nhớ đến khẩu súng Colt 45 Chiến đưa tôi. Hai đứa đã đồng ý nếu bị bắt sẽ tự tử. Nhưng tôi đã vứt khẩu súng đi theo lời khuyên của ông Thông. Kinh nghiệm cho thấy có súng nhỏ đã không làm nên trò trống gì mà chỉ gây rắc rối cho người khác. Đúng lúc đó, Chiến hỏi vọng xuống:

– Qua đèn đó, khẩu súng đâu? Tôi ậm ừ

-Rơi mất lúc nãy rồi. Tôi nghe anh chửi thề. Đành vậy. Nếu cần nhảy xuống biển cũng chết. Tôi nhớ những chuyện xảy ra ở ngay chỗ này. Một ghe vượt biển bị va đá ngầm, 34 người chết còn 4 người. Một vụ khác 27 người. Đúng là cửa chết. Từ khoang máy nhìn ra, tôi thấy chiếc đèn pha nhấp nháy. Tiếng Chiến vọng xuống.

– Có tầu đổ bộ, đừng có nhô lên. Hiệu đang ôm bụng cũng ngước nhìn tôi. Tùng, Đàn cũng ngóc lên lo lắng. Tôi xua tay. Sau này kiểm điểm lại, mọi người đi đến kết luận rằng tàu địch đã không thèm chặn tụi tôi vì biển động dữ quá. Có thể chúng nghĩ với chiếc thuyền tí teo, tụi tôi chỉ làm mồi cho cá. Thuyền vẫn lắc dữ dội, chồm lên thật cao rồi lại hụp xuống. Người tôi bải hoải. Thấy Chiến cúi xuống, tôi thều thào:

– Cho lên không chết. Nghĩ ngợi một lát, anh đưa tay kéo tôi lên và bảo ba người kia cùng lên.


Ra khơi

Hơi gió biển ngọt ngào. Khí trời thơm tho. Bầu trời rạng sáng. Tôi nhìn lại phiá sau, Vũng Tàu lấp lánh sáng một vùng. “Vũng Tàu đó ông, bao giờ không thấy nữa mới thoát”. Giã từ Việt Nam. Giã từ quê mẹ, quê cha. Giã từ Vũng Tàu, Bãi Trước, Bãi Sau, Ô Quắn, Roche Noir bãi cát vàng và hình ảnh những buổi nằm dài phơi nắng xa xưa. Biển xanh lơ.

Sóng lớn hơn thuyền. Anh Bé nói với tôi:

– Nếu số chúng mình không ăn mày thì có thể nói là thoát rồi. Từ phía sau, Thái bò tới. Anh bảo tôi:

– Cám ơn anh. Hiệu dù xanh rũ ra cũng góp:

– Hít thấy tự do rồi. Cám ơn toi nhiều. Khá lắm. Anh Bé cũng bày tỏ:

– Đương nhiên là khá. Tôi cười. Quá mệt. Cho tôi vào cabin nằm một chút. Chiến đỡ tôi ngả lưng xuống, tôi thiếp đi trong cơn sóng dữ. Mùi nồng nặc thấm dần vào khứu giác làm tôi tỉnh dậy. Tiếng anh Tám nói lớn:

– Cabin để cho đàn bà con nít. Đàn ông xuống các khoang mà nằm. Tôi ngồi nhổm dậy. Chung quanh tôi là những khuôn mặt bơ phờ, quần áo xốc xếch, đầu tóc tơi tả. Con thuyền vẫn bị nhồi dữ dội. Sóng bạc đầu phủ thuyền, ai nấy ướt loi nhoi. Mệt dữ, tôi cũng cố lết ra. Thái, Nam, Chánh đang chuyền nhau, bế từng đứa nhỏ dựa vào cabin, nơi tương đối nhất. Đó là một khoang rộng gần 2 thước, dài 3 thước. Cổ tôi đau, chân tôi rã, tay tôi không muốn cất lên. Ông Thông nằm cạnh đó thiêm thiếp. Chị Điển, chị Chiến được dìu vào. Rồi trẻ thơ, Bi, Ti, rồi các cô Oanh, Ánh Mai… Ai cũng nhìn tôi gật. Tôi gật lại rồi chui ra ngoài hỏi:

– Anh Phúc đâu? Điển đâu?

– Gục hết, ói tới mật xanh, mật vàng.

Trời mưa nhỏ, lạnh run. Tôi hỏi anh Bé:

– Xa chưa anh.

– Chưa đủ xa, nhưng không lo. Biển như thế này, chẳng có ma nào đâu mà sợ. Theo tôi ước tính thì sóng cấp bẩy.

– Vậy là bão à?

– Bão nhỏ.

Mò mẫm ra phía trước, tôi ngó vào từng khoang. Anh em tôi, bạn bè tôi đầy đủ. Mặc dù bị say sóng ngất ngư, họ đều cười với tôi. Thuốc chống say sóng Vomitop chẳng ăn nhằm gì. Đến khoang mui tôi ngó vào. Anh Phúc và Bằng nằm co.

– Khá không?

– Được thế này là phép lạ. Đúng là phép lạ.

– Ơ, sao ông không khen tôi giỏi?

– Tất nhiên là giỏi nhưng đúng là phép lạ. Có trời. Có trời.

Khi mọi người đã được xếp để có một chỗ ngồi xong, tôi kiếm Chánh.

– Gạo, nước ra sao?

– Bi thảm Đông Dương. Sóng đánh văng mất một khạp nước. Một khạp bị nghiêng, đổ ra ngoài một nửa. Đồ ăn bỏ lại bên ghe nhỏ mất một nửa. Mì vụn, bánh mì khô không đem đi được. Sữa thì đủ.

– Sao vậy?

– Anh Chiến giục quá xá, ai cũng mất tinh thần hết. Nội dìu được đám đàn bà con nít lên là hết xí quách. Biết làm sao bây giờ, tôi gọi Thái lên thảo luận. Quyết định hạn chế đồ ăn thức uống ngay từ bây giờ. Thái cười bảo:

– Anh yên chí. Chưa mạng nào ăn nổi đâu. Ói tùm lum. Trời mưa nên chưa ai uống nước. Giữa lúc đó, Chiến hét lớn ở phiá sau:

– Có ghe bộ đội Phía trái chúng tôi, một chiếc ghe nhấp nhô đang đi xéo so với đường của chúng tôi. Tôi tới hỏi anh Bé:

– Phải tụi nó không?

– Có lẽ. Nếu là ghe chài lưới, biển cỡ này họ không đi nghề. Nếu đang ở biển thì họ hướng mũi đi vào. Anh đừng sợ, nó ở xa rượt mình không nổi. Nó cũng chạy cỡ mình. Mọi người im lặng nhìn đối phương cũng đang trồi lên hụp xuống giữa những đợt sóng bạc đầu. Nếu nó chặn được mình thì sao. Tôi xua khỏi đầu ý nghĩ đó và có lẽ đúng như anh Bé tiên liệu, khoảng cách giữa hai bên vẫn giữ ở mức cũ. Độ hơn một giờ sau, chiếc thuyền địch quay mũi về hướng khác.

Biển vẫn động dữ dội. Tư Nhiễn tìm tới hỏi tôi có muốn ăn gì không, tôi lắc đầu. Mưa vẫn rơi, ai nấy ướt như chuột lột. Mọi di chuyển trên ghe đều vô cùng nguy hiểm vì thuyền nhồi quá mức tưởng tượng. Khi bò lên phía mũi, tôi bị một cơn sóng hất xuống biển. May nhờ cẩn thận, tôi nắm một sợi dây nên được kéo lên. Đã có những trường hợp té xuống biển bị bỏ luôn vì không thể nào vớt kịp. Tôi chui vào khoang đầu nằm co với anh Phúc, Bằng và Nam. Có lẽ vì quá mệt, tôi thiếp vào giấc ngủ đầu óc lơ mơ bồng bềnh.

Sáng hôm sau, trời hết mưa nhưng vẫn âm u. Mọi người có vẻ đã quen với biển cả, tỉnh táo hẳn. Anh Bé cho hay sẽ phải bắt phía trong Côn Sơn. Cơn biển động ngày qua khiến anh không dám vượt ra xa theo dự tính, đi vòng ra ngoài đảo Côn Sơn. Anh phải chọn lộ trình sát bờ và như vậy theo anh sự nguy hiểm bị tàu địch bắt lại vẫn còn. Có lẽ vì thấy tứ phía mênh mông trời nước, chẳng ai để ý đến lời báo động của anh Bé, nhưng lại phiền hà vì điều khác. Máy bơm nước bị hư vì dynamo ngấm nước biển không hoạt động được nữa. Tôi phân công tát nước bằng gầu. Đây là một công tác mệt nhọc vì hầm máy nóng bức, trơn trượt và khá chật. Hai người phụ trách một giờ. Chúng tôi luân phiên tát ngày và đêm. Con thuyền ngon trớn chạy tới. Mọi người hỉ hả. Một chú bé hỏi tôi:

– Bao giờ tới chú?

– Sắp rồi, ráng đi.

– Cháu đói.

– Ăn ít thôi kẻo nôn ra mệt lắm.

– Hết nôn rồi mà. Cháu đói.

– Sắp nôn nữa bây giờ. Mai chú cho đi ăn phở.

Chú bé nhìn tôi nghi ngờ. Bỗng tôi thèm phở không chịu được. Phở bà Dậu, nước trong thịt mềm không có qua một chút mùi thịt bò. Phở Gia Long thanh mà ngọt. Phở Tàu Bay đẫy đà gay gắt. Phở Số Một của mụ Béo nồng mùi củ cải. Phở Pasteur với món tái sữa lùng nhùng. Phở Cao Vân không bao giờ ăn hết một tô. Ôi Phở. Ôi Việt Nam. Vừa đi tôi đã nhớ. Tôi nhìn chú bé, lòng mềm đi:

– Đi kiếm anh Thái bảo pha cho một ly sữa. Nhớ nói đã xin chú Thiệp. Tôi biết Thái nguyên tắc, không bao giờ phát quá phần qui định cho bất cứ ai nên phải dặn kỹ chú bé như vậy.

Con thuyền vẫn lao đi trong bể cả mênh mông. Ai nấy dần dần tỉnh lại. Anh Phúc dù ít nói cũng đã cười hỏi tôi điều này điều nọ. Mọi người vẫn thay nhau tát nước trong khoang. Người yên lặng nhất bây giờ lại là Tư Nhiễn. Anh hỏi tôi:

– Liệu có trở về được không ông? Sao tôi nhớ Việt Nam quá!

– Về chứ. Nhưng đã tới đâu mà về. Bình tĩnh anh Tư.

Con thuyền vẫn chúi xuống thật sâu rồi lại chồm lên cao tít. Có lúc tôi tưởng như nó sắp lộn mèo. Anh Bé cho hay đã cho quay mũi thuyền để đi vòng ra ngoài Côn Sơn. Theo anh, đi như vậy chỉ phải đối phó với sóng gió chứ ít sợ bị chận lại. Anh nói với tôi:

– Đàng nào cũng ra đến đây rồi, không lùi được nữa. Nếu tôi làm hạm trưởng như xưa, tôi không dám đưa tầu ra vào những lúc như thế này. Nhưng nay khác. Có chết giữa biển cũng còn hơn.

– Đồng ý với anh ngay từ đầu.

Lạnh run. Ướt mèm, chúng tôi tìm chui vào những chỗ có vẻ khô hơn. Chiếc kim chỉ vòng quay của máy vẫn hoạt động, máy vẫn nổ dòn nhưng thuyền không đi nữa. Chiến cho ngừng máy để xem lại. Thái nhảy xuống nước và trồi lên cho hay chiếc chân vịt thẳng ra. Mọi người nhìn nhau ngạc nhiên. Tôi nhớ rõ cùng với Thái mua chiếc chân vịt này của mấy ông Tàu Chợ Lớn trước hôm đi độ hai tuần. Chiến về cho hay chiếc chân vịt cũ chỉ rộng cỡ 54 cm thuyền chạy yếu nên đề nghị mua một cái lớn hơn. Hai đứa lén lén lút lút mò mẫm cả buổi mới kiếm được một chiếc 64 cm, giá đắt khủng khiếp: 240 đồng. Chiếc chân vịt nặng nề bằng thau, một mình tôi mang không nổi mà có thể thẳng ra được. Nam nhảy xuống coi lại và tin tiếp theo còn bi thảm hơn nữa. Chân vịt rơi mất rồi. Trời đã quá tối đành neo lại. May mắn là đã bớt sóng. Chúng tôi nằm dài lềnh khênh trên sạp thuyền, không biết tương lai sẽ ra sao. Có lẽ còn mệt, chẳng ai thèm suy nghĩ, lăn ra ngủ. Buổi sáng mặt trời lên sớm. Chiến may mắn còn để chiếc chân vịt cũ trong khoang máy. Chúng tôi tìm cách ráp chân vịt nhưng không con ốc nào vừa với cái trục. Anh Tư Nhiễn tháo tung các bộ phận của chiếc máy đã hư, tìm được một con ốc hơi rộng. Chúng tôi quyết định cứ ráp và cột thêm dây chì. Trong lịch sử thuyền bè chắc chỉ có con thuyền của chúng tôi chạy với một chân vịt được ráp tân kỳ như vậy. Khi máy nổ, mọi người hồi hợp chờ. Con thuyền nhích tới và nhanh dần. Thế mà được thì lạ thật. Mưa lại rơi với bầu trời thấp lè tè. Lạnh run. Những đứa trẻ môi tái nhợt, lòng tôi thấp lại. Bao nhiêu áo mưa đã bị mất hết. Mọi thứ lẹp nhẹp nhưng đến tối thì trời quang dần. Trên cao tít sao lấp lánh. – Có đèn, có tầu.

Từ xa tít phía chân trời, chúng tôi thấy có hai đốm sáng. Anh em bàn nhau và quyết định đốt đèn cấp cứu. Hệ thống điện trên thuyền bị ngâm nước biển đã hư hết. Chúng tôi đốt đuốc khua múa loạn lên, dùng một cái chăn, chơi trò mọi da đỏ, đánh tín hiệu SOS. Hai đốm sáng rõ dần. Mọi người reo lên mừng rỡ. Đây có lẽ là hai tàu đánh cá đi cặp. Họ tiến về phía chúng tôi, tách ra mỗi chiếc đi một bên thuyền. Ai nấy ùa ra hí hửng, kêu la om xòm. Chúng tôi nhìn thấy thủy thủ bên tàu. Nhưng niềm vui không kéo dài. Họ từ từ rẽ sóng đi mất. Anh Bé bảo tôi:

– Tôi hi vọng chúng ta đi đúng hướng về đảo Mã Lai. Mình sẽ còn gặp nhiều tàu nữa.

Đúng lúc vừa qua một phen thất vọng thì Thái báo tôi một tin buồn hơn. Nước và lương thực mặc dù đã hạn chế tối đa nay lại báo động toàn diện. Tôi nhớ đến mớ thực phẩm bị bỏ lại, tiếc hùi hụi. Đành hạn chế hơn nữa. Nước uống, mỗi người được uống một nắp một lần, ba lần một ngày. Không biệt lệ. Tính ra như vậy, mỗi người chỉ được uống độ15cc nước, một vắt cơm to bằng quả quít trong một ngày. Trẻ con thật tội nghiệp.

– Cháu đói.

– Cháu khát.

– Có sữa không chú. Tôi pha trò cho tụi nó vui. Tôi hứa huyên thuyên. Tôi vỗ về an ủi. Nhưng chúng chỉ quên giây lát rồi lại hỏi. Tôi biết làm sao đây. Nguời lớn không ai than phiền. Tôi chui vào chiếc khoang nhỏ ở mũi thuyền cầu nguyện.

Nắng lên cao dần. Đến trưa thì chúng tôi mồ hôi nhễ nhãi. Mặt trời chói lọi chiếu. Anh em thi nhau múc nước biển dội lên sập cho đỡ nóng. Tôi hò hét mấy chú bé, buộc chúng chui vào trong cho đỡ mồ hôi nhưng chúng kêu ở trong ngộp thở. Chúng tôi đã gặp, đã thấy, gần cũng như xa 13 chiếc tàu lớn. Họ không nhòm ngó gì đến chúng tôi, thản nhiên đi theo hướng của họ. Thái lại cho tôi biết vừa kiểm điểm lại. Còn 12 lít nước. Tôi cũng không biết nói gì hơn. Đúng lúc đó, vào khoảng 3 giờ chiều có tiếng la lớn phía sau:

– Có tầu. Tôi nhìn bóng chiếc tầu từ xa, lòng không xao động. Khó mà buộc họ dừng lại. Anh Bé quan sát rồi bảo:

– Nó đi cùng chiều với mình. Để tôi chặn lại. Anh đảo tàu chạy vòng tròn trước hướng đi của tàu lớn. Nó ngưng. Anh em reo hò tở mở. Anh Bé cặp sập vào. Mọi người đã tỉnh lại. Anh Phúc và anh Bé sẽ lên “điều đình”. Thủy thủ và cả hành khách của tàu đó ra nhìn tụi tôi tò mò. Chúng tôi nhìn thấy tên tầu MANOZ PUSAN, A, tầu Đại Hàn. Phe mình rồi. Nhưng dù là phe mình, họ cũng nhất định không để anh Phúc lên. Khi anh bám vào cầu thang sắt, leo lên gần boong tầu thì họ đưa chân ra hiệu hễ lên nữa họ sẽ đạp xuống. Anh em hét lớn:

– Water, water. Họ vứt vòi nước ngọt xuống. Chúng tôi lôi hết thùng ra đựng. Chúng tôi cần thêm nhiên liệu vì trong thuyền hiện chỉ còn khoảng 100 lít. Nhiều tiếng hét lớn:

– Gasoline Nghi vác thùng đó ra hiệu. Anh Phúc vẫn nhất định không chịu xuống. Anh đeo tòng teng trên cầu thang như con ếch, quần áo ướt nhẹp. Tôi nghe anh hét:

– We come in peace. Trong số những người Đại Hàn quần áo tươm tất, tôi thấy một người đàn bà trẻ cúi nhìn chúng tôi ngạc nhiên tò mò. Anh Phúc vẫn hét lớn. Tiếng anh như lạc đi. Vị thuyền trưởng vẫy tay ra hiệu cho Nghi. Nhanh như cắt, Nghi cột 4 thùng vào sợi dây để thủy thủ tầu MANOZ kéo lên. Một lát, họ thả xuống hai thùng 40 lít và ra hiệu chỉ có vậy. Họ cương quyết xua tay đuổi anh Phúc. Anh Bé nghĩ đến hải trình, cột tấm bản đồ to bằng bàn tay, xé ở một tấm bản đồ lớn ra, yêu cầu vị thuyền trưởng xác định hộ vị trí. Nhìn thấy trẻ nhỏ trên thuyền chúng tôi, vài thủy thủ chạy vào. Một lát, họ trở ra vất xuống một hộp sữa bột. Nhiều người khác vất mì gói xuống. Vị thuyền trưởng ra hiệu cho anh Phúc nếu không xuống khỏi cầu thang, họ sẽ đạp. Anh đành tụt xuống. Chiếc tàu sắt cồng kềnh từ từ rẽ sóng bỏ lại đàng sau 48 mang người lênh đênh trong chiếc thuyền tí teo. Họ cùng đi về hướng Tân Gia Ba.

Kiểm điểm, chúng tôi “xin” được 40 gói mì, nước và 40 lít nhiên liệu. Ngoài ra chúng tôi biết hiện còn cách Tân Gia Ba 360 hải lý. Vui chán, nhưng niềm vui không lâu khi xét lại số nhiên liệu chúng tôi hiện có. Tôi bảo Thái tiếp tục giữ khẩu phần ăn và nước ở mức thấp nhất vì chưa rõ chúng tôi còn trôi dạt bao lâu nữa.

Đêm thật đẹp. Trăng mờ nhưng trời trong vắt. Mặt bể như một tấm gương phẳng lì. Ai nấy nhìn ra chung quanh. Cảnh tưởng quá vĩ đại của trùng dương làm chúng tôi run sợ. Anh Bé tiên đoán:

– Suốt đời đi biển tôi chưa gặp cảnh biển yên lặng như đêm nay. Kinh nghiệm cho thấy có thể ngày mai biển động và bão. Tôi sợ là bão lớn. Mọi người nhìn nhau lo ngại. Quả như lời anh Bé, trời mưa từ mờ sáng. Bầu trời phủ mây đen thấp tưởng như có thể với tới được. Sóng đập như muốn vỡ thuyền. Đúng lúc đó thì tai nạn lớn nổ ra. Máy không nổ nữa. Chúng tôi nhìn nhau không ai nói một lời. Neo vậy. Sợi dây neo gần 200 thước được thả hết xuống. Tôi gọi Chánh tới:

– Tôi coi kỹ rồi. Bình đề của mình chỉ còn 12 kí hơi. Tối thiểu phải 16 kí mới nổ.

– Có cách gì khác không?

– Với hiện trạng. Không.

Chiến, Nghi, Thái, anh Bé và cả Tư Nhiễn ngó tôi làm như tôi có thể làm phép lạ. Tôi thản nhiên tuyên bố:

– Kiếm chỗ nào có thể chui được thì chui vào mà ngủ. Nằm cho lại sức. Mấy khi được ngủ giữa cơn bão. Đứng đây lạnh, xưng phổi cả đám bây giờ. Chẳng ai nói một lời phản đối. Tôi bò lại khoang đầu chui vào. Bằng, anh Phúc nhìn tôi.

– Vô phương cứu chữa. Ngủ đi mấy ông.

Tôi co lên như con tôm dựa vào vách thuyền, chân gác lên mạn bên kia. Khoang đầu mũi quá hẹp, nên ba chúng tôi phải nằm trong tư thế quái đản đó từ ngày đầu. Mông tôi cấn vào cạnh gỗ, đau dần. Đốt xương cùng như bị đòn nặng, chạm vào đau nhói. Trời tuyệt nhà Lê rồi chăng? Tôi nằm im, mắt mở thao láo. Nước mưa nhỏ tí tách vào đầu vào cổ tôi. Anh Phúc cũng im lặng. Tư Nhiễn thò đầu xuống. Tôi nhăn răng cố cười với anh. Anh không cười. Tụt xuống. Ba chúng tôi cố ép lại nhường cho anh chỗ trống. Anh rút ra một điếu thuốc. Đốt lên giữa sự ngạc nhiên của mọi người. Chúng tôi đã hết thuốc từ hôm qua. Số thuốc lá đem đi mặc dầu bọc kỹ bằng bao nylong vẫn ướt sũng. Chuyền nhau điếu thuốc, chúng tôi im lặng hút. Anh Tư hỏi:

– Mình còn cách mé xa không?

– Gần xịt. Anh Tư không hỏi thêm. Có vẻ anh biết bờ còn quá xa, con thuyền vẫn bị sóng nhồi. Tôi nghe tiếng sóng vỗ mạn thuyền ầm vang, lòng xót xa thương những tấm gỗ mỏng manh. Thái bò tới phát cho mỗi người một miếng bánh dẻo to bằng nửa gói thuốc lá. Đó là khẩu phần cho cả ngày. Chúng tôi nhấm nháp chầm chậm, suy nghĩ mông lung. Tôi quay sang hỏi anh Phúc “Brandy và Cognac khác nhau ra làm sao?” Anh giảng tường tận thứ Whisky nào ngon. Anh bảo Chivas Regal. Vốn là một giáo sư đại học, đã từng đảm trách nhiều chức vụ quan trọng, anh tỏ ra rất am hiểu lễ nghi và phong tục các quốc gia trên thế giới. “Bia Đức ăn với dồi nóng là nhất. Ăn cá thì phải uống vang trắng”. Chúng tôi đang giả vờ quên thực trạng. “Thật ra ở Luân Đôn buồn lắm. Paris thì vui rồi nhưng phải có nhiều tiền. Song ở Hòa Lan coi vậy mà hay. Dân xứ này hiền hòa, hoa đẹp và nhiều, khí hậu dễ chịu, Bắc Âu à? Thụy Điển tiến lắm…” Cứ thế, chúng tôi nói tới những nơi mà có lẽ giờ này không một ai mường tượng đến hoàn cảnh của chúng tôi. Anh Tư cũng im lặng nghe những chuyện đâu đâu.

Quá trưa trời ngớt hột, nhưng sóng vẫn lớn. Những tảng sóng lớn hơn thuyền, hất chúng tôi lên cao, dìm chúng tôi xuống thấp. Tôi lần ra phía sau. Ai nấy run lên vì lạnh và đói. Tôi cắn răng nói với Thái pha sữa cho mấy đứa bé. Nghi và Chiến tìm tôi đề nghị hâm nóng bình hơi máy, áp suất sẽ tăng lên. Đồng ý ngay. Anh em xúm lại lui cui đốt. Tôi nhìn đồng hồ đo kim chỉ 8 kí sau 2 giờ đốt. Áp suất nhích lên 9 kí và sau đó không tăng. Một ý kiến khác được nêu lên. Thái bớt một máy, để một piston làm việc thôi. Làm ngay. Cứ thế, chúng tôi xoay trở. Chiếc máy im lìm, lặng ngắt. Quay tay nổi không? Thử đi, anh em ơi. Nghi, Nam và anh Tư Nhiễn ba người khỏe nhất săn tay áo. Họ quay như điên nhưng không vượt được vòng quay tối thiểu đủ làm mồi cho bánh trớn làm việc. Tay họ trầy ra. Chánh lại gần tôi nói nhỏ:

– Em không bàn thối, nhưng máy này không thể quay tay được. Anh thấy khi chế tạo, kỹ sư nó không làm chỗ quay đâu. Đừng phí sức. Tôi nhắc mọi người ngưng. Đi ngủ đi bà con. Ba “chiến sĩ” vì quá mệt, được phép ăn một gói mì và uống nửa ly sữa. Anh Tư không nỡ ăn một mình, tần ngần nhìn số thực phẩm quý giá rồi gọi Cang lại, đưa hết. Cang nhìn bố lắc đầu. Trên mui thuyền có tiếng la “có tầu”. Hiệu và anh Tám có nhiệm vụ kêu cứu đứng vẫy lia lịa. Một tấm SOS đã được chế tạo, nhưng chiếc tầu vẫn như những chiếc khác thản nhiên bỏ đi. Tôi leo lên mui hỏi Hiệu:

– Mấy chiếc chê mình rồi?

– Không đếm nữa. Dân Việt mình đúng là hủi cùn, hủi cụt, không đứa nào muốn dây vào. Trời tối dần. Ai nấy buồn thảm. Đàn, Tùng, Thịnh không đứa nào than vãn nửa lời, nhưng rõ ràng chúng quá đói. Tôi vỗ về, an ủi chúng và phân công tát nước. Anh Tám và Hiệu nhận thức suốt đêm để kêu cứu khi thấy tầu. Trẻ con như lịm đi vì đói. Hai đứa bé nhất, con Chiến và Điển, khóc luôn miệng. Một đứa con anh Bé lả đi mặc dù đã uống một ly sữa đặc biệt. Quá mệt, tôi chui vào tổ tò vò với anh Phúc và Bằng đã lịm đi trong thế nằm co, tai nghe sóng vỗ mạn thuyền ầm ĩ.

Én Nhà Trời

Sáng 16/5. Anh em quyết định dựng buồm. Anh Tư kết ba chiếc khăn và chiếc áo cà sa màu vàng của Hiệu thành chiếc buồm lớn. Gió hiu hiu, vải căng ra. “Nhúc nhích anh Tư ơi”, “kéo neo lên”. ” Sắp tới mé rồi anh Tư ơi”. Thực sự có lẽ thuyền không đi hoặc đi rất chậm. Đúng ra nó chỉ dạt đi nhưng ai cũng vui. Tôi nghe Bằng ở mũi thuyền ngâm nho nhỏ:

“Bể vô tận xá gì phương hướng nữa

Thuyền ơi thuyền xin ghé bến cô liêu”

Bài thơ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương chúng tôi đã học với thầy Ý từ hồi Chu Văn An. Tôi nhìn Bằng:

– Ê mày, nhớ ông thầy Trần Đình Ý không? Bỗng nhiên chúng tôi như coi thường mọi sự. Mấy bà mấy cô đua nhau ra ngồi ngoài sau lái múc nước tắm. Trẻ con thi nhau dội nước lên đầu nhau. Nắng lên dần. Những đồ đạc ướt nhẹp từ mấy hôm nay đem ra phơi. Cảnh tượng chiếc tàu giống như trại tản cư. Chẳng ai buồn cả. Nam ngồi cạnh mạn thuyền bỗng kêu lên.

– Có rắn. Con rắn biển nhỏ mà dài, lưng đen, bụng vàng nhạt lững lờ trong làn nước xanh. – Gặp rắn thì đi, gặp qui thì về. Thế nào mình cũng đến nơi. Tin tôi đi.

Ai cũng tin Nam. Có lẽ sự lạc quan kỳ diệu đã giúp chúng tôi thoát chết. Vả lại, có chết ở đây cũng vui mà. Những con cá nược khổng lồ nhào lên nhào xuống trước mũi thuyền, tha hồ cho chúng tôi ngắm.

Bể khá êm. Nếu đủ lương thực và nước nôi rồi cứ trôi mãi như thế này thì thú quá. Nhưng sự thực phũ phàng là chúng tôi đói và khát. Đâu có thể phung phí được. Tôi dặn kỹ Thái. Cương quyết chỉ phát đúng số khẩu phần đã qui định. Trẻ con khóc cũng đành chịu. Tôi nhìn môi anh Phúc khô nứt ra, lòng xót xa. Tôi nhìn Đàn như muốn lả đi, không biết nói sao. Anh ơi! em ơi! vì tự do chúng ta đã phải bỏ quê hương xứ sở, vì muốn sống kiếp người mình phải ra đi. Đã đi là chấp nhận tất cả. Chết giữa biển cũng vui mà. Tôi dựa vào thành thuyền. Cô bé Oanh lâm râm khấn Đức Mẹ. Một lát Oanh bật khóc. Tôi ngạc nhiên: – Sao vậy?

– Bây giờ cháu thấy thương mẹ cháu. Mọi khi cái gì cũng có mẹ lo. Bây giờ…

– Tầm xàm. Còn bao nhiêu chú bác anh chị đây. Cháu muốn gì?

– Cháu thương mẹ.

– Chú cũng thương mẹ chú. Cụ bây giờ cũng vò võ một thân già. Chú cũng được mẹ chú chiều chuộng. Nhưng mẹ chú phải để chú ra đi. Mẹ cháu cũng chấp nhận cháu ra đi. Những người mẹ đó thương con biết ngần nào, vậy mà họ đã phải cắn răng nhìn con cái ra đi. Phải xứng đáng với lòng hy sinh đó. Chiến đấu đi Oanh. Vui lên. Oanh vui là ở nhà mẹ vui.

Tối hôm đó bụng đói, miệng khát chúng tôi ngắm sao trên bầu trời. Tầu lớn đi lại tấp nập. Chúng tôi đốt lửa kêu cứu nhưng vô vọng. Anh Tư nằm dài cạnh tôi. “Kìa là sao Lưỡi Cày. Chùm đó là chùm sao Tua. Chỗ mờ mờ kia là Sao Khuê”. “Sao Khuê chín cái nằm kề. Thương anh từ thuở mẹ về với cha. Nghĩ ra các cụ ngày xưa tán hay thiệt há ông?” “Tôi có biết tán đâu. Ông già tôi bảo đi cưới thì đi cưới, chớ nào có tán tỉnh gì. Vậy mà giờ nhớ nó ghê. Mấy chục năm ăn ở với nhau mà phải bỏ đi. Thiệt. Sao ông không dẫn bà nào đi?” “Bà nào cũng kẹt hết anh Tư ơi!” Chúng tôi nằm tâm sự vụn đủ thứ và tôi thiếp đi trong giấc ngủ nhẹ nhàng. Sáng sớm hôm sau, anh Tư lay tôi dậy. Cánh buồm không gió rũ xuống ảo não. Biển sóng nhẹ. Chiếc thuyền bập bềnh như chiếc phao, không di động. Mặt trời chưa lên nhưng phía đông đã hừng sáng. Chắc chắn hôm nay sẽ nắng nữa. Tôi nghĩ đến số nước còn lại mà lo. Anh Tư bó gối nhìn tôi:

– Tính sao chứ như vầy không? Đêm qua, chẳng tầu nào chú ý đến mình cả.

– Bình tĩnh anh Tư, sắp đến mé rồi. Chánh, Nam bò lại chỗ tôi. Phải làm một cái gì đi anh. Tôi gọi mọi người tới nói:

– Chúng ta lâm vào thế kẹt. Hi vọng được tàu vớt quá mong manh. Ai có sáng kiến gì không?

– Làm lưới bắt cá. Hôm qua tôi thấy có cá ở phía sau thuyền. Có cá ăn đỡ lắm. Hiệu đề nghị:

– Tôi đề nghị làm giấy kêu cứu thả xuống biển.

Chúng tôi thi hành cả hai ý kiến. Mẩu tin kêu cứu được viết bằng tiếng Anh đại ý cho biết 48 người trốn khỏi địa ngục Cộng Sản đang trong tình trạng tuyệt vọng, không nước, không đồ ăn, máy hư. Chúng tôi cột thư kêu cứu vào thùng nylon. thả xuống biển. Tất cả sáu cái được gửi đi. Trong khi đang lui cui cùng anh Phúc viết lời kêu cứu thì có tiếng reo hò ở phía sau. Một đàn cá lọt vào lưới. Tổng cộng chúng tôi bắt được 37 con cá to bằng hai ngón tay. Ước gần một kí. Ngoài ra có một con to bằng cổ tay có sọc nhạt. Bàn tính một hồi anh em đồng ý nấu cháo cá. Mỗi người được gần một chén. Tôi húp thật chậm. Chưa có bát cháo nào ngon như vậy. Cháo ngọt lịm, thấm vào tim gan tì phế. Một chú bé bưng chén vào xin thêm. Ai cũng cười. Hết rồi, xương cũng không còn. Đó là đàn cá duy nhất dại dột chui vào tấm lưới bé tí teo của chúng tôi. Bộ lưới hành nghề chính thức trên thuyền đã phải quẳng đi ngay khi ra khỏi đèn phao Cần Giờ. Miếng lưới con con này là của đám ở rừng mang theo, vốn chỉ là lưới tay bắt tôm ở ven sông. Chẳng có ai tin rằng nó lại hữu ích như vậy. Niềm vui vì cá không kéo dài vì nắng mỗi lúc một gay gắt. Hiệu và Nam tìm tôi:

– Tại sao không kết bè. Cử sứ giả đi may ra thoát.

Hai người này đề nghị dùng 4 thùng nylon cột lại và họ sẽ đi để may ra gặp tàu vớt hay tìm được đảo. Họ chỉ xin mỗi người hai gói mì và một nửa lít nước. Tôi hỏi ý kiến anh em. Không ai đồng ý. Sống cùng sống, chết cùng chết. Hiệu và Nam nằng nặc đòi thi hành nhưng không được. Anh Tư trầm ngâm rồi lôi tôi ra một chỗ:

– Tôi nói riêng với ông rồi ông thử hỏi mọi người xem. Không lẽ chịu chết vô lý thế này à? Mình phá ít ván làm chèo thì sao? Chèo mãi cũng phải tới mé chứ?

– Thuyền cỡ này chèo được không?

– Không được cũng chèo! Phải làm cái gì chứ. Cái ý chí quyết sống thật ghê gớm. Tôi đăm đăm nhìn anh Tư. Nắng bể làm anh xẫm như pho tượng đồng đen. Cằm anh vuông toát ra vẻ cương nghị. Con sâu cái kiến cũng muốn sống nữa huống chi con người. Mần ngay anh Tư. Mọi người xúm lại tìm cách làm chèo. Tôi vốn vụng về dốt nát với loại công việc này nên được phép lên canh chừng tàu để kêu cứu. Tôi bật cười vì câu phê phán của anh Phúc trước sự vô tình của những con tàu lớn “Đúng là tình đời”. Người trí thức như anh không nặng lời với ai được. Những con tàu vẫn ngược xuôi tứ phía. Tôi hỏi Hiệu:

– Đếm được mấy cái rồi ông?

– Ít nhất cũng 43, chưa kể những cái quá xa thì bỏ.

– Mấy cái hồi sáng đi gần xịt bên mình đề tên tàu gì vậy?

Nhặt tấm gương soi mắt bé tí teo của chị Lan lên, tôi hỏi:

– SOS đánh làm sao?

– Ba ngắn – ba dài – ba ngắn.

Một chiếc tàu đi phía trái. Tôi chớp gương. Hiệu xử dụng cờ trắng vẫy lia lịa. Hai ba người khác thi nhau vẫy. Tầu to, màu trắng, dáng thanh tú, lướt sóng thật đẹp. Bọt nước trắng xóa tỏa từ mũi xuôi xuống hai bên thuyền. Con tàu không tỏ vẻ quan tâm đến chúng tôi và giữ đúng hướng cũ. Trời dịu dần rồi tối lúc nào tôi không rõ. Tôi xuống kiếm anh Tư:

– Xong chèo chưa?

– Sắp. Sáng mai sáu tay chèo lo gì không đến mé.

Gió thổi nhẹ, đủ làm phồng chiếc buồm rộng. Tôi ngả lưng cạnh cu Tí. Trông chú bé sụt hẳn, hai má hết phúng phính. Tôi cười, chú không cười lại như mọi khi. Tôi im lặng nhìn khuôn mặt bé bỏng nghĩ đến những hình ảnh rùng rợn. Thái đã thông báo số nước chỉ đủ cầm cự thêm một ngày nữa. Nếu đói khát thì hẳn là trẻ con sẽ chết trước tiên. Đã có những người cha ăn thịt con. Liệu tôi có… Tôi nhìn chú bé đang nằm liệt, lắc đầu không dám nghĩ tiếp.

Từ sáng đến giờ, mỗi người được một chén cháo lưng và một hớp nước. Cổ họng tôi khô ran, tiếng tôi khàn đi. Tôi nuốt nước bọt đều đều và cỗ dỗ mình vào giấc ngủ. Đêm rồi cũng trôi qua. Chúng tôi đã lênh đênh hơn một tuần và chưa biết số phận rồi sẽ trôi dạt về đâu. Kỳ lạ là không một ai trên thuyền lo lắng hay sợ hãi. Ngay từ mờ sáng, Tư Nhiễn đã hò hét mọi người. Tổng cộng mới làm xong 4 cái chèo nên chúng tôi đồng ý chia ra 4 toán. Mỗi người chèo nửa tiếng. Cang, Tư Nhiễn phải chỉ một hồi, chúng tôi mới chèo đúng kiểu.

– Ê! thuyền đi không?

– Đi dữ dội. Cố lên anh em. Chèo như nô lệ thời Trung Cổ là khá ngay. Có cặp rằng Tư Nhiễn nghe. Anh em cười và cố chèo.

Người nào chưa tới lượt đều phải chui vào khoang để tránh ra mồ hôi. Chúng tôi thi nhau chèo, cùng nghiêng mái, cùng nhún tới lấy đà, ngả nhẹ phía sau, đẩy như một tay chèo nhà nghề. Có vẻ con thuyền có đi. Nhưng điều quan hệ hơn cả là chúng tôi chiến đấu. Biển thật đẹp nhưng chết người vì nắng. Chúng tôi phải dội nước liên tiếp lên sập thuyền, phải chống với cái khát ghê gớm. Thái báo cáo chính xác chúng tôi còn gần 60 lít nước, 40 gói mì và nửa kí đường.

Không đủ một bữa cho 48 người. Tôi dặn đi dặn lại Thái phải cương quyết trong việc phát khẩu phần. Hai nắp nước một ngày. Bốn người một gói mì. Nếu duy trì được như vậy, chúng tôi có thể chiến đấu 4 ngày đêm nữa. Tôi cũng hi vọng trời sẽ mưa.

– Ráng lên, sắp tới nơi rồi anh em ơi. Có một con chuồn chuồn. Chúng tôi ngạc nhiên nhìn con vật bé bỏng màu nâu đó. Sao nó lại ở chỗ này? Tôi hỏi anh Bé, người có thẩm quyền nhất trong đám tụi tôi. Anh lắc đầu. Một là anh không biết biển có chuồn chuồn không. Hay là gần đây có hoang đảo chăng. Tuy vậy, sinh vật tí hon đó gieo vào chúng tôi niềm hứng khởi.

Khoảng 9 giờ sáng hôm đó, một con cò lửa nặng nề đáp xuống mũi ghe. Hiệu đang ngồi gần đó trơ mắt nhìn. Con cò có lẽ cũng ngạc nhiên với cảnh lố nhố, gật gù cái đầu rồi vỗ cánh bay. Anh em la lớn:

– Sao không chụp nó.

– Tội nghiệp. Trông nó mệt quá. A! lại thêm một kẻ tội nghiệp, không muốn sát hại cả đến một sinh vật nhỏ bé. Nam tiếc hùi hụi. Con cò đó nuôi tụi mình một ngày đủ đa. Ai cũng cười. Con cò khá lớn, chậm chạp vỗ cánh bay về hướng bắc. Hiệu suy luận:

– Cò bay chậm rì và cũng không bay xa được. Nhất định sắp tới mé rồi. Cố lên anh em. Tôi nhớ câu thơ trong Đằng Vương Các và chưa bao giờ thấy hay như vậy.

Lạc hà dữ cô vũ tề phi

Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc

Nắng vẫn lên cao. Mỗi lúc một gay gắt. Vừa đẩy mái chèo, tôi nhìn chị Điển bế con, đầu tóc rũ rượi. Thằng bé cho tới lúc này vẫn còn đủ sữa, toét miệng cười rồi đưa tay hôn gió tôi. Nhìn nó, lòng tôi bùi ngùi. Bé ơi, một mai khôn lớn, nghe mẹ cha tả lại cảnh này, bé nghĩ sao? Lớn lên là người Việt Nam đầy kiêu hãnh nghe.

– Có tàu.

– Thì vẫy tay.

Thực tình chẳng ai tha thiết đến chuyện kêu cứu nữa. Chúng tôi đã thấy trên 50 tầu. Hai chiếc đã kề sát tụi tôi rồi bỏ đi. Một đã từ chối không cho lên, còn lại lờ đi. Tình đời ấm lạnh mà. Anh Tám, người kiên nhẫn nhất cũng đã nản, ngồi ngó chiếc tàu phía xa, chú nhỏ Bình quá mệt, nằm dài ra, đưa một cánh tay èo uột lên vẫy. Chúng tôi vẫn chèo. Hiệu cũng cầm chiếc gương nhỏ nháy qua nháy lại trong tư thế làm để làm. Con tàu sơn xanh trắng đẹp uy nghi đang rẽ sóng phía trước chúng tôi.

 Bỗng anh Tám la lên:

– Nó ngừng lại!

– Sức mấy, lo chèo đi. Sắp tới mé.

– Nó ngừng thật mà. Chân vịt nó giảm, nước không cuộn nữa. Nó ngừng mà. Anh nói thiếu điều hụt hơi, có lẽ mệt và đói. Chưa tới giờ ăn mà. Giọng nói của anh làm tụi tôi hơi tin cũng ngó chiếc tàu trước mắt. Có lẽ nó chậm lại. Chúng tôi chăm chú nhìn. Nó ngừng thật, anh em ơi. Lúc đó là 12 giờ trưa 18 tháng 5 năm 1978. Chúng tôi ra sức chèo. Khoảng cách trông thật gần mà sao xa thế. Cố lên coi. Anh Bé giữ tay lái cho vững coi. Ai nấy nhốn nháo. Anh Phúc như tỉnh hẳn. Điển la to “Để tao bơi”. Tôi phải hét lớn “còn xa, từ từ đã”, Điển mới không nhẩy xuống. Tôi một chèo, ba cha con anh Tư ba chèo, cố đẩy chiếc thuyền đi tới. Tôi nghe tiếng hét “Nó bỏ phao xuống”. Trên chiếc tàu thật đẹp đó, thủy thủ đoàn lố nhố và trên đài chỉ huy giọng nói qua máy phóng thanh vang lên nhưng chẳng ai hiểu gì cả.


– Tàu Nhật, tao thấy chữ Osaka – Sun Swallow. Én nhà trời. Thiên Nhạn. Tôi nhìn kẻ dịch chữ Sun Swallow. Ông này dịch hay thế.

Tàu Sun Swallow

Anh Phúc và Điển ôm hai chiếc thùng nylon nhẩy xuống, bơi về phía chiếc phao do tàu ném xuống. Chúng tôi vẫn cố chèo. Chánh thấy tôi thở phì phò, mồ hôi nhễ nhại mới chợt nhớ rằng tôi đứng chèo lâu quá rồi. Chánh bảo:

– Để em chèo. Anh ra lo công việc. Công việc? Tôi biết làm gì vào giờ này.

Chiến bế đứa con nhỏ, hai giòng nước mắt dòng dòng. Oanh nức nở gọi “Mẹ ơi! mẹ”. Chị Điển ôm con dựa vào thành cabin mặt nhợt nhạt. Chị Lan xơ xác đưa tay vẫy. Ông Thông khẳng định “Kỳ này chắc chắn mình được cứu!” Tôi gật. Hiệu lại bảo tôi “Nếu nó không cứu, tôi nhẩy xuống biển tự tử. Các ông cố thoát, nhớ loan cho mọi người hay. Tôi chết để thức tỉnh lương tri những ông thuyền trưởng chai đá”. Tôi cũng gật. Nghi và Nam lăm le sợi dây. Anh Phúc và Điển cố bơi. Dù xuống nước sau, Điển lại tới trước. Anh Phúc có vẻ đã quá mệt nhưng cũng đến được thang. Chúng tôi thấy Điển được dìu lên rồi sau đó là anh Phúc. Điển thuật lại ngay khi lên anh chỉ nói được một tiếng “Water” rồi xỉu liền. Thủy thủ đưa anh lên cho uống một thứ nước mà anh đoán có bạc hà. Anh tỉnh lập tức. Yêu cầu được cứu. Vị thuyền trưởng hỏi có súng, anh lắc đầu lia lịa:

– No gun, no explosive! Vị thuyền trưởng vừa cho hay đồng ý cứu là Điển “sống lại” chạy băng ra ngoài vẫy chúng tôi. Bốn cái chèo vẫn ngoáy nước. Trên thuyền tiếng khóc như di, nhất là khi thấy Điển xuất hiện giơ tay vẫy. Thủy thủ trên tàu cũng xôn xao chạy tới chạy lui. Họ thả cầu thang thấp chờ đợi. Dần dần chúng tôi cũng cập sát được tàu. Đúng lúc đó, Oanh xỉu, ngã vào tôi. Tôi ôm cô bé, nhìn cảnh thuyền tôi đang kề vào chân thang. Tôi hét lớn:

– Lên từng người một. Lo đỡ đàn bà con nít.

Họ tỏ ra kỷ luật, dìu nhau chầm chậm leo lên. Tôi ghé vai cõng Oanh. Vừa lên đến sàn tàu, tôi gục xuống. Mọi người được uống nước ngay lập tức. Có lẽ do Điển nói trước. Đích thân thuyền trưởng Kim Do Yung đỡ tôi dậy. Tôi được ông hỏi có thể đánh đắm chiếc thuyền không. Ông giải thích để nó trôi giạt rất nguy hiểm cho tàu khác, vả lại nó cũng sắp chìm rồi. Tôi đồng ý ngay. Ông hỏi tôi còn muốn lấy gì ở thuyền nữa không. Tôi lắc đầu. Đích thân ông xuống chiếc thuyền của chúng tôi và một lát sau đi lên. Chiếc thuyền bị đẩy ra xa. Mũi thuyền ngóc lên cao, phía sau lún xuống dần. Mảnh áo cà sa làm buồm màu vàng vẫn cố bọc gió phồng lên. Độ năm phút sau, chiếc thuyền nhỏ bé thân yêu của chúng tôi chìm sâu vào lòng đại dương. Chúng tôi được vớt cách Tân Gia Ba 241 hải lý về phia đông bắc vào lúc 13 giờ chiều ngày 18-5-78 và được tàu Sun Swallow đưa về Chiba, Nhật Bản bảy hôm sau vào ngày 25-5-78.

 Ân tình

Phần cuối của lời tường thuật này xin để riêng cảm ơn thuyền trưởng Kim Do Yung và toàn thể thủy thủ đoàn tàu Sun Swallow. Không có lòng hào hiệp của vị thuyền trưởng khả kính cũng như toàn thể thủy thủ đoàn tàu Sun Swallow, chúng tôi đã chết giữa biển cả. Ngay khi nhìn thấy chúng tôi trong cảnh bệ rạc đó giữa biển, họ đã biết chúng tôi là người Việt Nam vượt biển trốn Cộng Sản. Họ cũng rõ những thủ tục do các quốc gia Đông Nam Á cùng nhiều nơi khác đặt ra đẩy họ vào những phiền toái đôi khi đến mất sở làm. Nhưng họ đã ngừng tàu lại để đón chúng tôi ngay sau khi hỏi ý công ty. Tôi xin viết ra đây lời phát biểu đã được chị Nguyễn Hữu Điển đọc nhân bữa tiệc thuyền trưởng và thủy thủ đoàn tiễn biệt chúng tôi trước hôm chúng tôi lên bờ. Đó cũng là lời kết cho tập viết này. ” … Chúng tôi đã vượt mọi hiểm nghèo và chông gai để tìm Tự Do. Quý vị là những người đã giúp chúng tôi thoát. Khi ngừng tàu lại, hẳn quý vị biết rõ những phiền toái sẽ đến với quý vị, nhưng do tình người quý vị đã cho chúng tôi lên tàu Sun Swallow này.  Chúng tôi đã tìm lại Tự Do ngay từ giây phút đầu tiên đặt chân lên tàu. Bổn phận còn lại của chúng tôi trong những ngày sắp tới là đấu tranh cho tự do cho đồng bào ruột thịt của chúng tôi hiện đang sống tại Việt Nam. Bất cứ khi nào, bất cứ ở đâu, chúng tôi cũng tâm niệm và rao truyền cho con cháu chúng tôi điều này…”

TRUYỆN NGẮN: CHUYỆN MỘT RONIN

Truyện ngắn tưởng nhớ chú Âu Minh Dũng

1.

Âu ngồi yên, nghe tim thổn thức, giọt lệ người thương nóng hổi và mằn mặn trên môi anh. Chiến thời, không làm chinh nhân, thì ở hậu phương cống hiến tim óc cho quê cha đất tổ. Ngày mai, anh lên đường tòng chinh một trận chiến khác, du học Phù Tang, ngõ hầu đem kỹ nghệ tân kỳ về làm giàu cho đất nước. 

Nhưng tình nước tình nhà, ít khi nào vẹn cho đặng đôi bên. Người yêu của Âu là một cô gái bé nhỏ, với giấc mộng bình thường như bao cô gái Việt Nam khác. Cô mong Âu sẽ là giáo sư dạy cấp một, cô làm y tá, rồi hai người sinh những đứa con khoẻ khoắn, dạy dỗ chúng như bao đứa trẻ khác, đất nước không còn tiếng súng, lũ trẻ lớn lên trong cảnh thanh bình. Cô không muốn anh đi, giữa cảnh chiến loạn này, một lần rời nhau, có khi chẳng còn gặp lại. Cô nhắc năm Mậu Thân, hiệp ước ngừng bắn còn chưa ráo mực, phía bên kia đã lật mặt đánh giết điêu linh; thì nay đâu có gì bảo chứng, một khi Âu đi rồi chuyện đó không xảy ra lần nữa. Cách biệt lần này, làm sao mà gặp lại. Mặc cô khóc, mặc cô van nài, chí Âu đã ngầm quyết định. Anh chỉ muốn lựa lời yên ủi, cho ngày anh đi, lòng cô không quá đoạn trường.

– Diệu Chi nì, nghe anh nói, anh nỏ phải đi vùng lửa khói, anh đi học ở xa, nhưng chỗ nớ nỏ có chuyện binh đao. Anh học xong, rồi về mình làm đám cưới hĩ, em nghe anh nói đi Diệu Chi!

Chi giẫy nẫy trong tiếng nấc:

– Em nỏ muốn nghe gì hết mô! Anh bỏ em! Anh bỏ em anh đi! Anh bỏ em đi luôn đi!

Âu nhìn người yêu khóc nức nở, mái tóc đen huyền phủ đến giữa lưng, đôi mắt long lanh nước, đôi môi đỏ không cần son run rẩy mếu máo, đáng yêu và đáng bảo bọc biết bao, nhưng trong tình cảnh này anh chỉ biết ôm chầm lấy bờ vai mảnh khảnh, siết ghì như muốn truyền cho cô thêm nghị lực, rồi lại hôn da diết lên môi cô, chỉ mong tình yêu làm cho cô bình tĩnh đón nhận cuộc chia ly. Nụ hôn mặn tràn nước mắt. Diệu Chi cố đẩy Âu ra, rồi đánh vào ngực Âu mấy cái thật mạnh, vẫn không ăn thua, cô lịm dần trong tiếng nấc yếu ớt. Nụ hôn tiễn biệt, tưởng dài vô tận…

– Đau! Răng em cắn anh đau rứa hĩ? Chảy máu rồi tề!

– Anh phải nhớ em đó! – Diệu Chi thút thít – Đừng thương cô khác mà phụ tình em… Anh bỏ em, chắc em không sống nổi mô!

– Rứa lỡ anh đi mấy năm mới về, em có đợi được chăng?

– Em không cho anh đi quá lâu mô! Em chỉ là con Diệu Chi bé nhỏ, ngày tháng dài hung, em mỏi mòn tiều tuỵ mất thôi. Anh mà đi lâu, thể nào em cũng đi kiếm anh, chân trời góc bể mô em cũng đi!

Âu nghe từng lời, từ sâu trong thâm tâm anh có gì đó bất an. Ở đâu xa có tiếng pháo, hay tiếng pháo trong tiềm thức, tiếng pháo đã vọng từ thời bé dại, trong những giấc ngủ muộn đêm hè lộng gió. Âu nhìn xa xăm vào bóng đêm. Mùi hương tóc của người yêu không làm vơi cơn sầu ảo não của đêm chia biệt. Biết làm sao hơn, sanh ra trong chiến thời, từng ngày lớn lên, nhìn cảnh xe khách bị gài mìn, cảnh trường tiểu học bị pháo kích, cảnh phố chợ bị đặt bom… ngày nào cũng có thường dân vô tội phải chết vì những kẻ phi nhân.

Phải dứt tình mà ra đi, biết làm gì khác, khi mình là một phần của thời cuộc. Không đặt đôi bàn tay vào gánh nặng của đồng bào, mình có khác gì kẻ phản bội quê hương. Ba mạ anh đều là những người Huế xưa, trọng luân thường đạo lý như giữ con ngươi trong mắt. Ba anh có câu cửa miệng: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách, chừ mi đã lớn, không cầm súng thì phải cầm bút, đem sức vóc mà phụng sự cho đất nước. Nếu mi chỉ cầu an, một lo cho bản thân mi và vợ con mi mà chớ, thì không xứng đáng là nam nhi nước Việt!”.

Âu trưởng thành trong sự răn dạy đó, nên trong lòng anh luôn coi tổ quốc là trên hết. Với Âu, dòng máu Việt chảy trong huyết quản có giá trị thiêng liêng không gì sánh được, hai tiếng Việt Nam gọi lên nghe yêu thương day dứt, dẫu cảm tình trai gái đã sâu nặng như chồng như vợ, mà so với tình yêu đất nước lại chẳng sánh bằng… Đêm nay có lẽ là đêm dài nhất cuộc đời anh từ nhỏ tới giờ, nó đánh dấu một cuộc hành trình mới, mà anh có lẽ chẳng thể hình dung là dài đến hơi thở cuối cùng…

2.

Ito Tsubashi vỗ vai Âu từ phía sau, Âu không quay lại. Đôi vai anh run run. Ito không nỡ bước lên trước để nhìn gương mặt người bạn lưu học sinh lúc này, có thể Âu đang xúc động. Ito ngồi xuống bên cạnh, im lặng, thở dài thật khẽ đúng kiểu một người Nhật trưởng thành. Cả hai cùng không nói gì chừng một giờ. Đôi khi, yên ủi không cần bằng lời nói, chỉ cần sự hiện diện là đủ. Lát sau, như đã lấy lại bình tĩnh, Âu chậm rãi:

– Từ bây giờ, tôi đã lỡ thành ronin rồi. Cảm ơn Ito san[2] đã bên cạnh ronin này trong lúc khó khăn…

– Âu san, tôi không biết phải nói gì để an ủi anh. Xin anh hãy mạnh mẽ, đừng để tâm khí của mình sụp đổ! Tương lai còn dài, chưa biết chừng sẽ còn thay đổi!

– Tôi hiểu mà Ito san. Chuyện đã rồi, có đau khổ mấy cũng phải sống tiếp. Chắc chắn tôi và những lưu học sinh khác sẽ không thể dễ dàng chịu thua thời cuộc. Sau này, có thể phiền đến Ito-san nhiều, xin anh hãy thương đến những samurai mất chủ như chúng tôi mà tương trợ!

– Nếu có hữu dụng được gì cho những người trung thành nghĩa khí, thực là vinh hạnh cho Ito Tsubashi. Xin hãy coi tôi là bạn thân nhất của Âu-san và các anh em khác! 

Hai người gọi thêm mấy người bạn đồng kỳ nữa, thù tạc rất lâu. Đêm nay là đêm mất nước, bao nhiêu men cay để xoá nhoà cơn đắng cay trong tiềm thức. Đêm xuân Phù Tang, gió mát mẻ mang mùi hương hoa cỏ mới. Tháng Tư ở đây là tháng bắt đầu mọi sự, người Nhật kết thúc công việc, năm tài khoá hay năm học vào tháng Ba, rồi nghỉ ngơi đến đầu tháng Tư lại khai trường, mở đầu sổ sách hay các công việc quan trọng. Còn những lãng nhân này, những kẻ đã mất dần tổ quốc vào tháng Tư và tới ngày cuối tháng thì mất hết, những kẻ này có theo phong tục của Nhật là bắt đầu, hay với họ bây giờ đã kết thúc? 

– Chúng ta không thể mất tổ quốc dễ dàng như rứa được!  – Âu cất tiếng, phá tan bầu không khí ảm đạm.

– Phải! Chúng ta phải làm gì đó! Chúng ta là con dân Việt Nam, không phải những kẻ vong bản vô tổ quốc!

– Đúng lắm! Chúng ta có thể chết, nhưng Tổ quốc vẫn trường tồn! Phải làm gì đó! Phải giành lại đất nước từ cộng phỉ!

– Phải cho quốc tế biết! Người Việt chúng ta không bị khuất phục! Dù có chết, cũng phải đuổi hết bọn phỉ tặc đó về hang Pắc Bó!

Buổi thù tạc đau thương, bỗng chốc bừng bừng nhiệt huyết. Những người trẻ, muốn trút hết bầu máu nóng ra rửa nỗi nhục vong quốc. Họ bàn bạc đường đi nước bước. Cả đêm hôm đó, họ đã cùng hoạch định những bước đi cho hành trình dài sắp tới. Đầu tiên, phải tổ chức họp báo để thông cáo với thế giới rằng Việt Nam đã rơi vào tay giặc Cộng và những người Việt Nam yêu chuộng tự do sẽ kế tục sự nghiệp của cha ông, kế đó cực lực lên án hành vi cướp nước của quân xâm lược cộng sản. Tập hợp những người có lòng vì đất nước thành một khối. Vận động chính giới các nước hỗ trợ trong công cuộc mưu đồ quang phục lại đất nước, đặc biệt là các chính trị gia thân thiện ở Nhật. Mọi người đân hình dung ra con đường phía trước thì cũng là lúc trời ửng sáng…

Anh em chia tay hết rồi, Âu chợt nhận ra mối liên lạc với ba mạ và Diệu Chi từ đây coi như bị cắt đứt. Thiên san vạn thuỷ cách trở thế này, ba mạ có được bình an, Diệu Chi có vững lòng trông đợi? Âu ngồi bệt xuống sàn nhà, ngả đầu dựa vào vách đờ đẫn. Tim anh chợt nhói lên một nhịp đập dị thường. Trời ơi, liệu quân cộng có thảm sát ba mạ anh bằng những phiên toà bởi những kẻ lưu manh làm chủ toạ? Liệu những kẻ khát máu quanh năm chui nhủi trong rừng rú có buông tha cho Diệu Chi, một cô gái bé nhỏ và mong manh như hoa tường vi?

Âu dường như không kiểm soát được hơi thở, những cơn đau chạy dọc cánh tay từ đâu đến, lồng ngực có cảm giác như đang có muôn thừng chão gì quấn chặt. Bất giác, Âu phải ôm ngực như để cố gỡ ra một thứ gì đó đang đâm sâu vào nội tạng. Âu tự ra lệnh cho cơ thể mình: “Dừng lại! Âu ơi mi làm răng rứa! Mi phải sống! Dừng lại!”. Âu như nghe rõ mồn một tiếng ông thân sinh răn dạy, không cần biết ở vai trò gì, hễ sanh ra là con dân tộc Việt, mang quốc tịch Việt Nam Cộng Hoà, thì phải dùng hết sức mà cống hiến cho quê hương!

Nay chuyện gì cũng còn dang dở, chưa nên công nghiệp gì mà buông xuôi chịu chết, thì dù có thành hồn linh vất vưởng không ai nhìn thấy, cũng không thể đối diện được với ba, với những đồng bào và binh sĩ đã tử nạn vì chiến cuộc. Âu thở hắt mạnh ra một hơi, cơn đau tim từ từ biến mất. Âu muốn viết thơ, một thơ cho Diệu Chi, một thơ cho ba mạ, mong đến lúc nào có cách nào gởi được.

Diệu Chi thương,

Chiều ni không biết Hương Giang có ánh ráng vàng lấp lánh, có ai chèo đò, ai ca bài Lý Mười Thương trên nớ?! Anh nghe tin ở quê hương, lòng tan vỡ như từng viên ngói Phu Văn Lâu cũ kỹ, đau chuyện quê hương đã hung, còn trông tin Diệu Chi mà bứt rứt hơn ai đặy hòn than trong dạ. Giờ này Diệu Chi có bình an ngồi bên song cửa, tờ hoa tiên có hằn lại dòng thơ gầy gầy như xương trúc. Có nhìn thấy tà dương ảo não, nghĩ về kẻ tha hương?

Anh ở Đông Kinh, chừ đương độ hoa anh đào rộ, vẫn không sánh bằng môi ai cười nắng mới. Một lần đã thấy, cả đời chẳng có khi mô quên đặng. Chừ quê hương mình có cơn đại bĩ, thuyền con con gặp phong ba bão táp, nhưng khoang thuyền vẫn ăm ắp tình xưa, xin gắng công chờ ngày bến thuyền tương hội, đừng vội cột ràng thuyền mô khác kẻo lỡ làng. Bên ni, mười đêm ra đứng trông trăng cả mười!”

Khi đó, Diệu Chi mặc một bộ bà ba tươm tất, đi lễ Phật trong căn am nhỏ cạnh nhà. Trong khói hương thành kính, cô thầm nguyện cầu Tam Bảo gia hộ cho Âu ở phương xa. Cô quỳ thật lâu trước bàn thờ nhỏ nhắn trong am, bất động, mắt đỏ hoe ngân ngấn lệ. Âu gấp lá thơ, cố xếp thật tỉ mỉ bằng cách xếp cầu kỳ, để tờ giấy thành một hình chữ nhật rất đẹp và cứng cáp. Diệu Chi chắp tay trước ngực, hít một hơi thở sâu, nhắm mắt lại, cảm nhận như có hơi ấm của người yêu bên cạnh. Âu mở cửa sổ, để ánh nắng ngày mới và gió xuân tràn ngập khắp phòng, tình yêu màu nhiệm chữa lành mọi khắc khoải. Diệu Chi nghe tiếng chim ríu rít, tiếng gió xào xạc, tiếng cây cỏ chuẩn bị nẩy mầm chờ mùa mưa nát mẻ. Trong cơn sầu thảm của thời cuộc, niềm tin thiêng liêng và sức mạnh diệu kỳ của tình yêu đã giúp Diệu Chi thấy căng tràn sức sống, nhất định cô sẽ chờ Âu, nếu lâu quá, cô sẽ đi tìm Âu!

3.

– Âu san, mười năm rồi, vẫn không chịu vào vĩnh trú nhân của Nhật hay sao? – Ito hỏi, không giữ nổi thái độ cung kính cố hữu.

– Ito san, tôi làm sao thay được dòng máu Việt chảy trong huyết quản của mình đây? – Âu trả lời, môi mấp máy như còn cả bầu tâm sự giấu lại dưới cổ họng, như thể chỉ cần một cử chỉ nhỏ khơi gợi có lẽ cũng làm phun trào như nham thạch.

– Âu san đừng cố chấp như vậy nữa! Tôi và các bạn bè khác trong chính giới có thể giúp anh an toàn về thăm hai cụ ở nhà, hoặc đón hai cụ sang đây chăm sóc, chỉ cần anh đồng ý thôi qui chế tị nạn, đồng ý nhập quốc tịch, người tài như anh, chắc chắn được nước Nhật chúng tôi chào đón! Xin anh nghĩ đường ngày rộng tháng dài, quốc tịch Nhật là vấn đề thủ tục bên ngoài, còn trong lòng anh có không yêu nước Nhật cũng không sao cả!

– Trước tiên, tôi cảm ơn Ito san đã có lòng thương cho một ronin như tôi. Những điều Ito san và các bạn Nhật đã giúp đỡ, suốt đời này tôi vẫn đội ơn. Tôi yêu nước Nhật lắm Ito san à, từ tiếng rầm rầm của điện xa mỗi lần đi qua dịch trạm Shinjuku, đến sự náo nhiệt của Akihabara về đêm, rồi sự trầm mặc của tháp Ngũ Trùng chùa Pháp Long ở cố đô… một góc nhỏ tim tôi cũng đong đầy cảm tình cho nước Nhật. Nhưng tôi tin, khi nào tôi còn giữ quốc tịch Việt Nam Cộng Hoà, còn cầm thẻ căn cước Việt Nam Cộng Hoà như một giấy tờ tuỳ thân quan trọng nhất, thì ngày đó trên thế giới này đất nước mến yêu ngày xưa của tôi vẫn tồn tại, cơn đại biến qua đi, tôi lại cầm tấm căn cước và cuốn sổ thông hành này trở về! Đó là lẽ sống của tôi!

– Âu san, nếu anh đã coi mình là ronin, muốn giữ trọn lòng son với cố quốc, thì tôi chỉ còn biết cúi đầu kính phục. Nhưng từ đáy lòng, tôi vẫn mong anh nghĩ lại! Tôi luôn mang bộ hồ sơ của anh bên mình, chỉ cần anh đồng ý! Nhân tiện, việc sắp xếp cho mấy người bạn của anh vào tạm trú trong Hộ Quốc Tự, tôi đã lo liệu xong. Chiều nay anh có thể tới thăm họ.

 – Cảm ơn anh, Ito!

Âu cúi đầu thật sâu, mong chuyển tải hết tấm lòng mang ơn tri ngộ. Mười năm kể từ ngày mất nước, tóc trên đầu Âu đã phai màu, đôi mắt cương nghị của một nam sinh ưu tú thở nào, giờ hằn dấu chân chim nơi cuối khoé. Anh đã xin Nyukan cho giữ tư cách lưu trú là người tị nạn, anh không muốn bỏ đi tư cách của một quốc dân nước Việt, dù giờ đây đã là cố quốc. Anh đã nối được liên lạc với bên nhà bằng thơ tín. Từ ba mạ, Âu vừa biết Diệu Chi đã chờ anh trong vô vọng cho tới năm 1980, rồi mất tích! Từ ngày mọi người không thấy Diệu Chi, đến giờ đã năm năm lẻ, người nói Diệu Chi vượt biên, người nói Diệu Chi bị bắt cóc, người nói Diệu Chi phát bệnh rồi bỏ nhà đi, người lại nói Diệu Chi được ông cán bộ Bắc Kỳ nào cưới rồi mang về Bắc… Sâu trong thâm tâm mình, Âu nhớ mãi lời nói của Diệu Chi trong đêm chia biệt, rằng cô sẽ đi tìm anh nếu quá lâu không gặp. Nên Âu nhất mực tin rằng, Diệu Chi đã tìm đường vượt biên để sang Nhật tìm mình. Những ngày tháng đó, khi nghe có thuyền nhân từ nước tạm cư tới ở đâu trên nước Nhật, Âu đều tìm tới bằng mọi giá. Mỗi lần như vậy, trái tim Âu lại rộn lên niềm hy vọng khôn tả, để rồi, lại vỡ vụn như ống khói của đèn Huê Kỳ khi chẳng thấy bóng dáng Diệu Chi đâu trong số những người tị nạn. Anh lao vào việc hỗ trợ cho những người mới đến, làm thông ngôn, dạy tiếng Nhật, kiếm sở làm, liên hệ y tế và các dịch vụ phúc lợi khác cho cộng đồng tị nạn sớm làm quen cuộc sống mới. Những công cuộc từ ngày đầu mất nước, bạn bè dần có hướng đi tách biệt, lần lượt theo quốc tịch Nhật như một thứ lợi khí để hoạt động, nhưng bản thân Âu thì vẫn một niềm tin sắt đá về ngày hồi hương bằng thông hành cũ, bằng tư cách cũ… 

Sau tất cả những trách nhiệm phi thường mà Âu dang vai gánh vác, trong anh vẫn là một con người có cảm xúc. Những mùa đông tuyết trắng, gió thổi rát da, Âu để mặc cho môi tươm máu. Trong lòng anh dằn vặt khôn nguôi, câu hỏi về Diệu Chi lúc nào cũng dai dẳng le lói trong đầu óc của anh. Rốt cuộc Diệu Chi đã đi về đâu, sống nhung lụa bên chồng hay đã cơ khổ nơi nào trong các trại? Bàn tay ngọc ngà vẫn có điều kiện nắn nót thơ xưa trên những bức hoa tiên, hay thân thể đã trôi dạt loã lồ vì hải tặc. Đôi lúc, ngồi ngoài biển, nhìn từng đợt sóng dồi nhấp nhô trùng điệp, Âu bật khóc thành tiếng: “Diệu Chi ơi! Giờ ni em ở mô? Em còn sống hay đã về cát bụi? Em trả lời anh đi Diệu Chi!”. Không có tiếng trả lời, chỉ có tiếng hải âu ngơ ngác nhỏ dần rồi hoà lẫn vào tiếng sóng…

4.

Năm 1995, hai mươi năm kể từ ngày vong quốc, từ một thanh niên du sinh mang hoài bão lớn phụng sự cho đất nước, giờ Âu đã là một người trung niên quắc thước, bạn bè đồng kỳ khi xưa, giờ đã thành danh hết cả, người thì có vị thế cao trong chính phủ, kẻ có thế lực lớn trong cộng đồng, kẻ là doanh nhân giàu có. Những người bạn Việt Nam khi xưa, kẻ gan dạ trở về đã bị hành hình, người thì viễn du sang trời Âu biển Mỹ, đem lý tưởng phục quốc đi khắp nơi gieo mầm hy vọng. Cộng đồng tị nạn khi xưa, giờ ai nấy đã quen với thời tiết cũng như nếp sinh hoạt của xứ Phù Tang. Thế hệ kế tiếp, đã học chung với trẻ con bản xứ, người lớn cũng nguôi dần nỗi đau ngày rời bỏ quê cha đất tổ, để làm việc và cống hiến cho quê hương mới. Tuy trong lòng ai có lẽ cũng đau đáu nỗi niềm người viễn xứ, nhìn về quê hương vẫn là cảnh tiêu điều xơ xác, nhưng để lựa chọn, không ai chọn cách thể hiện tình yêu đất nước cuồng nhiệt như Âu. Anh vẫn giữ quốc tịch Việt Nam Cộng Hoà, vẫn mang trong mình thông hành và căn cước có quốc huy hình chim đại bàng uy dũng, sống một cuộc sống nghèo khó của một người tị nạn chính thức và ôm ấp mãi hình bóng Diệu Chi trong thâm sâu tận đáy lòng.

Âu cố tập cho mình quen với ý nghĩ rằng Diệu Chi đã mất, để trong lòng không còn khổ luỵ. Âu đôi lúc vì những hiểu lầm và trách cứ vô lý của người khác, trong khoảnh khắc cũng muốn tin rằng Việt Nam Cộng Hoà đã chết, để có thể sống cuộc đời riêng mình và không còn ưu tư về vận nước. Nhưng rồi, sáng hôm sau thức dậy, Âu lại thấy ngập tràn hy vọng, hy vọng rằng Diệu Chi sẽ đến tìm mình trong hôm nay, rồi cả hai ôn lại những tháng ngày xưa xa vắng. Âu hình dung ra cảnh hai người nhận ra nhau từ xa, sẽ tới ôm chầm lấy nhau mà chẳng cần e dè lễ nghĩa. Rồi Âu sẽ nhắc với Diệu Chi, rằng vì vết cắn năm xưa mà Âu có thể đợi chờ mãi mãi. Những khi ấy, Âu lại mỉm cười, một tay đặt lên ngực, con tim chộn rộn những nhịp đập lâng lâng. Trên túi áo bên trái, luôn là thẻ căn cước và thông hành được bọc nilon cẩn thận. Tổ quốc ở đâu? Dễ dàng chỉ ra trên bản đồ? Dễ dàng đi loanh quanh trên một phạm vi mặt đất để vạch ranh giới rằng tổ quốc tôi chỗ này chỗ kia chăng? Hay tổ quốc là những đảng phái mình yêu thích lãnh đạo đất nước? Hay tổ quốc là nơi mà mọi người theo một chủ nghĩa chi đó mà mình cũng thuận tình cho là đúng?

Không phải, những điều đó đều có thể thay đổi, từ cổ đại vua Hùng làm vua Bách Việt, cai quản cả phương trời mênh mông từ dãy đại sơn Ngũ Lĩnh đến tận Nam Hải xa xăm, nơi có các tộc người xa lạ; rồi vua Thục đánh tan năm trăm ngàn lính Tần mà trảm thủ Đồ Thư; rồi đời sau suy yếu, bị người Bắc giành quyền kiểm soát, lại có vua Trưng Trắc đầu voi phất ngọn hoàng kỳ, đoạt lại sáu mươi lăm thành trì mà xưng Vua Bà ở cõi Lĩnh Nam; rồi lại tới thời ngàn năm thuộc Bắc, đại giang sơn tuy suy suyển ít nhiều, nhưng thế hệ nào cũng không thiếu anh hùng hào kiệt, nào Lý Nam Đế, Mai Hắc Đế, Bố Cái Đại Vương, Đinh Tiên Hoàng Đế, Tiền Ngô Vương…  đều đánh tan tác bọn xâm lược không chừa manh giáp mà phục hồi quốc thống. Rồi tiếp nối các đời Lý – Trần – Lê – Nguyễn mà giữ nước đã được ngàn năm. Nay đến thời Cộng Hoà, quốc gia lâm cơn bĩ nạn, nhưng ai dám nói tổ quốc này đã mất?

Vậy tổ quốc, chẳng phải là sự truyền tông tiếp đại dòng máu anh hùng hay sao? Ở đâu, khi nào, mà còn một người ý thức rằng đang mang trong mình dòng máu anh hùng của tiền nhân, thì tổ quốc chẳng bao giờ chết! Như người Do Thái giữ được ngọn lửa cháy mãi ngàn năm, thì người Việt mình dù có đi đâu làm gì, ngọn lửa thiêng là tổ quốc trong tim vẫn chẳng bao giờ lụi tắt. 

Ba mạ của Âu giờ cũng đã cao tuổi lắm, nhưng đọc được thơ tay của Âu, hiểu được chí của người con hiên ngang, thì chẳng nề hà chuyện cách trở, chỉ một lòng một dạ khuyên Âu cố gắng giữ tròn khí tiết và tìm cách giúp đỡ đồng bào trong cơn hoạn nạn. Sách xưa, nuôi thân xác cha mẹ chỉ là tiểu hiếu, nuôi được chí của cha mẹ mới là đại hiếu vậy. Người nào hiểu được lẽ này, lại có con đại hiếu theo lẽ này, chẳng phải là phước phần hiếm gặp hay sao?!

5.

Ito Tsubashi về hưu, ông về quê nhà ở đảo Shikoku miền Nam nước Nhật. Cả đời đã cống hiến không mệt mỏi cho lý tưởng chấn hưng đất nước, ông gặt hái nhiều thành quả nhưng cũng không ít trái đắng. Hành trang trở về quê hương, chỉ là sổ lương hưu đủ sống và chế độ phúc lợi xã hội như bao quốc dân khác. Con cái ông đều ở lại Tokyo hoặc sang Mỹ sống và làm việc, chỉ còn hai vợ chồng già dắt nhau về căn nhà mà ông đã sống thời niên thiếu. Trước khi về, hai vợ chồng tới chào tạm biệt Âu, vẫn đang sống trong một căn hộ 1K cũ kỹ và sạch sẽ gần một ga nhỏ như vô danh ở tuyến tàu Yamanote. Âu bây giờ, đã là một bác Âu khả kính, tóc bạc da mồi. Có hẹn trước, Âu cầu kỳ chuẩn bị trà Thái Nguyên hảo hạng, canh trước giờ hẹn đúng ba phút để pha trà vừa thấm vị mà không bị nguội. Có tiếng chuông cửa, Ito và okusan đã tới, không sai nửa phút.

– Ito san, từ đáy lòng, tôi cảm ơn hai anh chị vô cùng, bất kể lúc nào cũng đã lo nghĩ cho tôi. Hai anh chị đã vất vả rồi, kể từ bây giờ, xin hãy an nhàn nghỉ ngơi, vui hưởng cuộc sống thật trọn vẹn! Phần tôi, cũng sẽ giữ gìn sức khoẻ, xin anh chị đừng bận tâm. Nhất định tôi sẽ đi Shikoku thăm anh chị!

– Âu san, chính tôi mới phải cảm ơn anh! Nhờ quen biết anh, tôi biết giá trị cuộc đời mình ở đâu để cố gắng phấn đấu, đóng góp chút tài hèn sức mọn cho tổ quốc. Âu san, vẫn không đổi ý định sao? Xin đừng làm ronin nữa!

– … – Âu im lặng, mỉm cười thanh thoát, nụ cười của một người có lòng tin sắt đá, trước lòng thành của một người bạn cũng kiên trì không kém hơn bốn mươi năm thuyết phục bất thành, nụ cười vừa thương vừa cực chẳng đã.

– Âu san, tôi thấy thật có lỗi vì sau ngần ấy năm vẫn không thể thay đổi được điều gì trong sự khó khăn của anh. Một người tị nạn, chỉ có thể làm việc giản đơn và giới hạn thời gian, không có phúc lợi, cũng không thể đi đâu ra khỏi nước Nhật. Anh thường nói với tôi, tổ quốc ở trong tim, vậy sao anh còn vướng mắc bề ngoài?

– Ito san, với người Nhật, quốc bảo quý trọng nhất chẳng phải là quốc tịch hay sao? Tại sao anh lại muốn giao cho một kẻ không thể đặt Nhật Bản lên trên hết như tôi? 

– Dù anh có nói gì, tôi cũng không ngừng thuyết phục anh trong mấy chục năm qua… Nhưng lần này, có lẽ là lần sau cùng chúng ta nói về điều này. Ngày mai tôi nghỉ hưu, tôi không còn khả năng suy tiến cho anh nữa. Hồ sơ của anh, tôi vẫn giữ bên mình và mang đến đây. Một lần chót, tôi tha thiết mong anh nghĩ lại. 

Ito nói xong, bà vợ liền mở cặp táp, lấy xấp hồ sơ đưa Ito, rồi ông chính khách già nua kính cẩn bưng bằng hai tay, đưa lên cao trước mặt Âu. Lễ trọng làm Âu bối rối, vội đứng dậy đỡ lấy xấp giấy từ người bạn già, nhìn trân trân vào mắt Ito. Ito đang rưng rưng. Hai ông già nhìn nhau. Vô ngôn mà như chứa đựng ngôn từ của thiên kinh vạn điển…

Hôm nay cộng đồng tổ chức biểu tình trước sứ quán của Việt cộng. Âu mặc sơ mi trắng, trang phục như ngày nào còn là nam sinh trường Quốc Học Huế. Giờ đây, đoàn biểu tình không còn là những ông già bà cả của một thời dĩ vãng nữa. Hàng hàng lớp lớp thanh niên cùng tham dự. Chúng không sợ cường quyền. Chúng chẳng nề hà gian khó. Chúng chẳng màng lợi danh. Lòng chúng chỉ bừng bừng lửa yêu mến non sông. Tổ quốc không mất. Tổ quốc đang hồi sinh mạnh mẽ. Đó có lẽ là hoa thơm trái ngọt rõ thấy nhất của Âu cũng như nhiều cộng sự khác trong cả quãng đời xuôi ngược. Âu nhìn lớp trẻ, trong lòng cảm thấy hy vọng đã bừng lên toả rạng. Đây mới là con cháu của các bậc Tiên Vương, là hậu duệ xứng đáng nhờ hồn thiêng sông núi. Mỗi đứa, Âu đều cảm thấy yêu mến như con như cháu. Nếu khi xưa thành giai ngẫu với Diệu Chi, có lẽ con út hoặc cháu đầu lòng của hai người cũng như những đứa trẻ này. Đứa tên Hương, Âu nhớ đến sông Hương đong đầy kỷ niệm. Đứa tên Vị, làm Âu liên tưởng tới quẻ Vị Tế là quẻ rốt cùng Kinh Dịch. Mọi sự tưởng đã kết thúc ở quẻ Ký Tế, nhưng lại chỉ mới bắt đầu…

Mùa đông năm nay, hà cớ gì lại lạnh nhất trong bốn mươi năm qua. Tokyo có tuyết rơi thật dày. Đêm đó, Âu nằm mơ thấy Diệu Chi đẹp rạng ngời trong áo dài tím Huế. Âu thấy mình trẻ lại. Âu mỉm cười:

– Diệu Chi, rốt cuộc thì anh cũng gặp lại em!

Mùa xuân năm Heisei thứ 30
Yamato Ronin


[1] Lãng nhân – những samurai chết chủ mất thành, sống lang bạt để tìm cách quang phục hoặc báo thù

[2] San – hậu tố thêm vào sau tên gọi với ý kính trọng

Manga ĐỒNG TÂM TRUYỆN

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một tranh truyện ngắn về biến cố thảm sát ở Đồng Tâm trước tết Nguyên Đán. Xin dành sự trân trọng và biết ơn đến tác giả SR đã cố gắng thể hiện lại câu chuyện qua nét vẽ của mình. Mong được sự đón nhận của quý độc giả và bỏ qua những chỗ chưa hoàn hảo, bởi trên hết đây không phải là một cuộc thi truyện tranh, nhưng là những nỗ lực để những người đồng bào và cao xa hơn là đồng loại, không quên tội ác thảm sát vô nhân tính này. Quý vị có thể tự do phát hành lại và truyền bá hay phiên dịch theo ngôn ngữ nơi quý vị ở, để tội ác này được càng nhiều người biết đến hơn. Xin cảm ơn quý vị.

Ban Biên Tập Nam Nghệ Tân Xã

TÂM THỨC

Ta thấy lòng thanh thản
Mặc ngoài kia
Gió nói lời tự tình với gió
Ta soi lại dòng sông
Tiếng khua
Sóng sánh sóng
Nghe thời gian trở mình
Võ vàng bốn mùa Xuân tình tự

Trên cành cây – lá non
Chưa kịp chuyển mình hoá hạt yêu thương
Mặt trời xa vời vợi
Từ tâm – hoa vàng mở lối
Bàn chân buông ưu phiền
Sau lưng – mắt hạc nhìn nhau
Nhẹ trong hơi thở
Ta trở về

Nguyễn Diễm Thuỳ

SẮP XUẤT BẢN: OKINAWA – MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

Chúng tôi nhận bản thảo của sách “Okinawa – Một Thời Để Nhớ” vào những ngày Phù Tang cuối thu, khi hồng diệp đã trang hoàng đồi núi khắp nơi và không khí lạnh đã bắt người ta thay áo ấm. Đây là một tập sách có thông tin chi tiết về những trại tị nạn và những thuyền nhân người Việt ở Okinawa – nơi từng là đảo quốc Lưu Cầu có nền văn hiến và ngôn ngữ khác biệt với phần còn lại của nước Nhật. Thoạt đầu, tưởng như đây là một tập tư liệu khô khan với những con số và sự kiện theo ngày tháng, nhưng mọi thứ không dừng lại ở đó…

Hàng chục cuộc phỏng vấn với nhân chứng sống, những lần cất công xin tư liệu như thể điệp vụ bất khả thi trong việc đàm phán với chính quyền Okinawa, những bài hồi tưởng về các chuyến vượt biên không thể nào quên, những hình ảnh quý giá tưởng như không thể nào sưu tầm được, những bài viết từ những người tưởng như không bao giờ cầm bút… tất cả những nỗ lực phi thường đó đã kết tinh trong quyển sách này. Sách về người tị nạn cộng sản đã nhiều và đã có từ những ngày đầu có người tị nạn, nhưng ở “Okinawa – Một Thời Để Nhớ”, độc giả sẽ tìm thấy được những điều rất đặc sắc, bố trí theo một trình tự súc tích hoàn hảo và nội dung vô cùng phong phú. Hơn hết, quyển sách này còn giải đáp được thắc mắc những con người ngày xưa bây giờ thế nào, qua việc giới thiệu sơ lược về hiện tại của những người xuất thân từ Okinawa năm đó. Trong sách còn có tiếng nói của thế hệ hai, sinh trưởng ở nước định cư, nhưng lại biết về Okinawa và Việt Nam qua lời kể của người lớn. Song song đó, sách còn giới thiệu về “Dự án Okinawa” – một nỗ lực lớn lao để sưu tầm tư liệu và các hoạt động tri ân vùng đất đã cưu mang rất nhiều người trong cơn ly loạn. Một cuốn sách chứa tâm tư tình cảm và nguyện vọng của rất nhiều người, trải qua hai thế hệ, với niềm mong mỏi “Về Nguồn” được nung nấu và truyền thừa không ngơi nghỉ.

Những chàng trai trong đội banh trại tị nạn Okinawa

Chúng tôi tin rằng trong chừng mực nào đó, bạn đọc sẽ nhìn thấy được câu chuyện của bản thân và đồng cảm với những người cùng cảnh ly hương đã tự bạch trong sách. Đây không phải chuyện văn chương chữ nghĩa, nhưng còn là tiếng nói – hay chính xác hơn là tiếng kêu gào mãnh liệt của những người Việt đã từng cắn răng nuốt lệ từ biệt quê cha đất tổ. Vì sao mô tả như vậy? Vì trong thế giới vật chất và đổi thay từng ngày như hôm nay, người ta có thể dễ dàng quên hoặc cố tình quên đi nguồn gốc của mình, thì nỗ lực để nhắc nhở chính mình và con cháu về quãng đường đời tị nạn đắng cay, dường như là “tiếng kêu trong hoang địa” của ông thánh John The Baptist kêu gọi người ta sống đường ngay nẻo chính trong thời buổi suy vi. Nhưng may thay, khi việc thực hiện cuốn sách vừa khởi sự, tức thời nhất hô bá ứng, người người cùng tiếp tay tiếp sức, cho thấy lòng dạ của những thuyền nhân năm xưa vẫn chưa phai màu son sắc, vẫn còn đau đáu nỗi khắc khoải về nơi mình đã ra đi. Sự cộng hưởng này đến từ những trái tim chân thật cùng chung một nỗi ưu tư chân chính. Vậy thì chẳng phải là tiếng kêu gào đơn độc nữa, mà cuốn sách này còn là sự cộng hưởng rền vang như tiếng sư tử hống ở đô ấp Kammassadhamma thời Phật Gautama còn tại thế. Đây quả là một ấn phẩm đáng trân trọng mà chúng tôi hân hạnh được cộng tác thực hiện và giới thiệu với độc giả người Việt năm châu.

Đông Kinh, mùa đông năm 2019
Nam Nghệ Tân Xã

HỒI KÝ: THÀNH PHỐ GIỮA THÁNG TƯ

Xin trân trọng giới thiệu với quân ta một bài viết, đọc mà thấy lặng người trong giai đoạn “quê hương ta bầm gan tím máu”.
Thành thật cảm tạ tác giả Trương Hữu và người giới thiệu (N.D.Thùy) đã cho phép Nam Nghệ Tân Xã đăng lại bài viết này.
Mấy anh chị em ở Okinawa đâu rồi? mà không cứ là Okinawa, những ai đã có một lần hay nhiều lần gắn bó với Nhật Bản, xin cùng nhau thở ra vài tiếng để ta cùng bắt đầu cho tiết mục “Những câu chuyện cần phải kể”. Mong lắm.
Xin nói thêm một chút, anh em chúng tôi đã “bén duyên” nhờ…. Đặc Tập.

—————————————————————————


Thành Phố Giữa Tháng Tư

Có những thành phố mà mặc nhiên ấn tượng về chúng cứ mãi nằm sâu đâu đó trong ký ức. Để những con đường, những hàng cây, góc phố chỉ chờ một chỉ dấu nào đó ngang qua là khơi lại tức thì khoảng thời gian, không gian hiện hữu. Thành phố ấy có thể là nơi mình được sinh ra và lớn lên. Ta từng có ở đó những tháng ngày vô tư rong chơi khắp chốn. Có những người bạn cùng ngồi chung một dãy bàn, một lớp học, có ngôi trường giữa hai hàng cây lá xanh biếc. Hay có thể là thành phố đã từng ghi dấu một mối tình khó quên mà ta nhìn đâu đâu cũng là kỷ niệm, chiếc ghế đá công viên thường ngồi, quán cà phê quen thuộc hay ghé, những nụ hôn vội vàng còn đây xao xuyến. Tất cả những thành phố ấy thì thân thương có lẽ phải được tính bằng chiều dài khoảng thời gian sát cánh bên nhau. Và điều chắc chắn rằng ta sẽ không nguôi tha thiết nhớ một khi phải rời xa.

Nhưng cũng có những thành phố ta không cần phải đong đếm bằng quỹ thời gian hao đi bao nhiêu để đo được giá trị đối với mình. Chúng dù chỉ cần được ghé qua một lần, ngụ lại một thời gian ngắn thôi cũng đủ làm ta không sao quên nổi. Có thể chỉ là một tình cờ run rủi để thành phố ấy gắn liền với ta, và nó bỗng dưng trở thành chứng nhân cho một đoạn đời quan trọng làm thay đổi cả nếp nghĩ suy của mình mai sau…

…Tháng tư năm nay lại về, nắng ấm vừa vặn ngập tràn thành phố tôi đang cư ngụ. Boston bên bờ sông Charles mùa này đẹp tuyệt vời. Nhưng tôi sẽ không kể gì thêm về thành phố này nữa như mọi lần. Tháng tư tôi chỉ muốn ghi lại vài dòng hồi tưởng về một thành phố khác, nó ở thật xa nơi đây. Nó cũng đang ngập tràn ánh nắng, cũng đang nở rộ mùa hoa đầy màu sắc. Cái thành phố thật nhỏ bé, vài con đường đi loanh quanh đã về lại ngay chốn cũ để ta chỉ có thể gọi là một thị trấn cho đúng nghĩa hơn. Motobu nơi có khu trại dành cho người tị nạn. Thị trấn giữa đàng, nơi từng cưu mang một nhóm người Việt vượt biển may mắn đến được bến bờ tự do. Nếu bạn tò mò tìm trên bản đồ Google sẽ thấy, Motobu nằm ỏ phía bắc quận Okinawa. Quận này nằm trong quần đảo Okinawa cực nam Nhật bản, nơi có vài căn cứ quân sự lớn của Hoa kỳ. Okinawa còn là địa điểm hấp dẫn cho du khách tìm đến khi nó có những bải biển dọc theo bờ tuyệt đẹp và những cánh rừng hoa Anh đào thơ mộng nở rộ trắng hồng đầu tháng ba.

Okinawa ở một ngày đầy nắng ấm tháng tư, tôi tha hương. Tôi với tấm thân trần trụi, vận độc nhất một chiếc quần đùi, chân không giày dép ngơ ngác bước lên đất Nhật. Làm sao quên được cái mùi thơm lừng từ hộp cơm “bento”, cái vị ngọt mát lạnh từ lon coca đầu tiên, thêm đôi dép lê và tấm áo nữa, tất cả là tấm lòng của người dân xứ sở ân nhân trao cho. Chúng tôi, nhóm gồm 25 người tị nạn được vớt giữa bão tố biển khơi, sống sót như có một phép lạ nhiệm mầu. Giờ đây, những người cùng lén lút rời khỏi đất nước đêm nào, đang bước sang một ngã rẽ khác của đời mình. Có thể bước đầu sẽ rất cơ cực khi phải gầy dựng lại đời mình trên đất nước xa lạ, biết bao khó khăn đang chờ đón. Nhưng dù sao tự do vẫn là điều quí nhất chúng tôi cần tìm kiếm khi bỏ nước ra đi và nay đã có được…

Ai đã từng vượt biên, vượt biển để có những ngày sống ở trại tị nạn trong thập niên 70, 80 mới thấu hiểu được tâm trạng của những thuyền nhân, bộ nhân. Mỗi một con người, mỗi một gia đình là một câu chuyện đời mà dù may mắn hay bất hạnh đều đẫm đầy nước mắt.

Nơi tôi tạm trú, trại Motobu chỉ là một trại tị nạn nhỏ chứa chưa đến 200 người, vậy mà những câu chuyện khủng khiếp trên hành trình vượt biên thì đâu thiếu. Đất Nhật quá xa Việt nam để những con thuyền nhỏ bé đến thẳng được nơi đây. Phần lớn chúng tôi chỉ sống sót là nhờ được tàu lớn vớt khi lênh đênh giữa đại dương. Chuyến hải hành nào xem là may mắn thì vài ngày, tuần lễ đã được cứu. Nhưng có những chiếc thuyền gỗ mong manh trôi hằng tháng trời không lương thực, nước uống. Khi được lên tàu lớn, họ chỉ còn là những bộ xương nhúc nhích. Và còn biết bao thân xác đã phải tẩm liệm trong lòng biển khơi trước ánh mắt đau đớn, bất lực của người thân.

Sống nơi đây hơn 2 năm, có những đêm mất ngủ tôi hay nhìn ra khoảng sân vắng sau trại. Thỉnh thoảng giữa bóng tối thoáng thấy những bóng người, nghe đâu chừng như có tiếng thở dài nhớ quê, nhớ nhà, nghe trong ấy vẳng lại tiếng rấm rức khóc thương cho không may của người thân mà thân xác đã nằm vĩnh viễn trong sóng biển muôn trùng. Có những ngày được đi làm thêm ngoài trại. Giờ nghỉ trưa nằm nhớ nhà quay quắt, thoáng nghe tiếng thở dài não nuột của người đàn ông bên cạnh. Anh, một cựu trung úy hải quân Việt nam Cộng hòa, người có hai đứa con gái nhỏ đã chết vì kiệt sức ngoài biển. Mất hai đứa con gái yêu quí vợ chồng anh sống như hai chiếc bóng lạc hồn. Nằm bên cạnh, tôi cứ nhớ mãi giọng anh nho nhỏ tâm sự:

– Nhớ hai đứa nhỏ quá! Mình hối hận vô cùng khi quyết định dẫn hai đứa ra đi, nhưng số mệnh nó vậy, biết sao…

Lời anh thêm như cắn rứt chính mình:

-Phải chi mình bình tĩnh hơn, cho hai đứa nhỏ uống nước tiểu thì chúng đỡ mất nước. Biết đâu chúng sống thêm cho đến lúc được cứu. Buồn thật! Mình là một sĩ quan hải quân, từng điều khiển tàu mà lại quên điều sơ đẳng như vậy.

Thật đau xót khi nghe lời ai oán tự trách mình của một người cha nhìn hai đứa con đang chìm dần trong mê sảng. Anh đã tự tay mình đưa xác chúng xuống biển. Anh chết điếng cõi lòng. Cả đời mình, tôi chưa thấy hình ảnh nào chứa đựng sâu thẳm bi thương như đôi mắt anh ngày ấy. Ánh mắt không mang một nỗi buồn bình thường, nỗi buồn còn có điểm tựa để bám víu, nó là sự tan vỡ, sụp đổ hoàn toàn của lý trí, của tâm linh. Những lời chia sẻ lúc này còn ý nghĩa gì! Tôi lặng người, quay sang hướng khác để trốn những giọt nước mắt của người đàn ông bên cạnh hay của chính mình.

Tại trại tị nạn Motobu-Okinawa có một câu chuyện vượt biên thương tâm mà nghe kể lại ai cũng rùng mình. Cả chiếc ghe hơn 200 người đã chết hầu hết. Một trong những người hiếm hoi sống sót là anh D, bạn thân ở kế phòng tôi. Anh đi cùng cha và người anh trong chuyến vượt biển đó. Điều kỳ lạ là cả gia đình bạn tôi đều may mắn sống cả.

Chuyến ghe xuất phát từ bờ biển gần Nha Trang. Sau mấy ngày lênh đênh thì mọi người mừng rỡ khi thấy ánh đèn từ một hòn đảo phía trước. Theo suy đoán của thời gian và hải bàn, có lẽ đã đến vùng biển đảo thuộc Philippines. Ban đêm, người tài công chuẩn bị cho ghe tấp vào đảo. Nhưng không may, gần đến bờ thì ghe bị mắc cạn không tiến hay lùi được nữa. Giữa biển tối đen, mọi người đang nhốn nháo thì bỗng từ trong đảo từng loạt đạn AK bắn thẳng vào ghe. Biết là gặp phải một trong những đảo Trường sa của bộ đội Việt, mọi người đang cố tìm chỗ núp và đưa ghe ra lại biển thì từng quả đạn B40 rót đến. Chiếc ghe trúng đạn súng cối bể nát trong tiếng la hét khẩn cầu Trời-Chúa-Phật cứu nạn. Từng mảnh của chiếc ghe nổi bồng bềnh. Xác chết ngập cả một khoảng biển. Thịt da nào chịu nổi những tràng đạn tiểu liên, đạn súng cối dồn dập tìm đến.

Trong cơn hỗn loạn, ba cha con bạn tôi và vài người đàn ông khác hô nhau cùng lao xuống biển. Sóng đánh dồn dập, may thay có cái can dầu trống trôi lơ lửng, cha con cố bám vào và bơi ra xa bờ. Lát sau cả ba hầu như kiệt sức và thả trôi theo dòng nước. Khi hy vọng sống quá mong manh thì bỗng đâu họ thấy một chiếc ghe trôi gần đó. Như được thêm sức mạnh, cả ba và thêm một người đàn ông nữa cố bơi đến và được giúp leo lên. Thì ra đây là cũng một chiếc ghe của người vượt biên, đã bị bắn từ trong đảo Trường sa và trôi dạt ra xa. Được biết họ ra đi từ Gò công. Trên ghe cũng có vài người chết và bị thương. May mắn là máy ghe vẫn còn nổ và không mắc cạn nên họ cố chạy lại ra biển.

Chiếc ghe chạy thoát khỏi hòn đảo tử thần một thời gian thì hết dầu chết máy, trôi lênh đênh không phương huớng. Người bị thương lần lượt chết và xác họ phải thả xuống biển. Chiếc ghe trôi hằng tháng trời, đói thì câu cá mực lên ăn, nhờ trời lâu lâu có cơn mưa đổ cho họ nước uống. Những ngày trôi nổi giữa biển, thỉnh thoảng có vài chiếc tàu lớn đi ngang qua nhưng vì một lý do nào đó tất cả đều làm ngơ. May mắn thay, cuối cùng rồi cũng có chiếc tàu buôn của Nhật động lòng mà cứu vớt và đưa họ đến đảo Okinawa.

Câu chuyện cả ba cha con anh bạn D. đều sống sót trong chuyện ghe định mệnh là một điều hy hữu làm ai nghe cũng sửng sốt. Gia đình bạn tôi quá may mắn, niềm tin, ơn phước nào đã ban cho tất cả. Chuyện lạ lùng này vẫn chưa dừng lại ở đó. Lên đến trại tị nạn một thời gian thì có thêm chuyến ghe vượt biên được tàu Pháp vớt và đưa đến cùng trại. Trong chuyến ghe đó có cả vợ con và hai người em của anh K, một trong bốn người sống sót trong chuyến đi từ Nha Trang. Giữa thế giới bao la, giữa đại dương trùng trùng thì phải có sự sắp xếp linh thiêng nào họ mới có cơ hội đoàn tụ như trong câu chuyện kể. Không có lời giải thích nào bằng niềm tin, có một đấng cứu rỗi, soi sáng và sắp đặt tất cả cho định mệnh của chúng ta.

Tháng tư về, tôi vẫn không sao quên được những ngày ở đảo Okinawa. Tháng tư làm nhớ đến ánh mắt của người cha cứ ám ảnh nhìn đâu cũng thấy hình ảnh hai đứa con mình dần tan biến trong sóng biển. Tháng tư còn làm tôi nhớ đến ba cha con người bạn và chi tiết chuyến vượt biển năm nào của họ. Hai năm cùng sống chung và những chiều lang thang trong khu công viên hải dương Expo 75 gần trại tị nạn. Ngồi nhìn biển trời, kể lại câu chuyện cũ. Lon bia trên tay, mắt bạn tôi vẫn còn ngập chìm ánh dại hãi hùng của một lần chạm tới nỗi chết tan thịt nát da. Bia đắng dễ say, nhưng cũng dể làm nhớ đến một niềm đau đã muốn chôn kín…

Lúc gần đây, tin tức thời sự hay nói đến sự xâm lấn của Trung cộng vào chủ quyền quốc gia của nước mình. Được nhắc nhiều nhất có lẽ là sự kiện Hoàng sa và Trường sa, hai quần đảo của Việt nam đã bị họ ngang nhiên chiếm đóng. Nhiều người lính của Việt nam Cộng hòa ngày trước và chính quyền hiện tại đã hy sinh khi bảo vệ vùng biển đảo tổ quốc. Vì đất nước mà hy sinh như những anh hùng tử sĩ ở Hoàng sa, Trường sa thì chúng ta phải có lòng biết ơn ghi tạc. Nhưng trong tôi sao vẫn cứ trăn trở hoài chuyện bắn giết ở chuyến vượt biển từ Nha trang cập bãi Trường sa năm nọ.

Làm sao quên được chuyện kể về những viên đạn tiểu liên AK, cối B40 nhắm bắn xối xả vào những nạn nhân mà cũng chính là đồng bào mình. Tôi không hiểu thù hằn nào để họ đan tâm bấm cò súng nhắm vào nhóm người tay không, những đàn bà con nít đang la gào hổn loạn. Người bộ đội tay không vũ khí bị Trung cộng tàn sát ở Gạc ma (Trường sa), chúng ta nghe mà thương xót, thù hận quân xâm lược. Nhưng, còn hận thù nào dành cho những bộ đội từ Trường sa đã bắn giết người vượt biên lỡ cập vào đảo. Xót xa nào cho những thân người đang cố ngoi lên giữa sóng biển, bóng đêm, hoảng hốt kêu gào “Đừng bắn chúng tôi, người Việt nam đây, Việt nam đây!”.

Tháng tư thời tiết đã đủ ấm để tôi và bạn bè quanh đây hay rủ nhau tụ tập cuối tuần. Uống vài chai bia, kể về những câu chuyện đời đã qua. Một lần có anh bạn nửa đùa nửa thật cứ cho rằng tính tôi không thể nào làm chính trị được. Tôi dễ ngả lòng vì một điều tình cảm đâu đâu, tôi khó giận và căm thù một điều gì thật lâu. Thì vậy, thời gian đã trôi qua hơn 40 năm, xương thịt của người chết ở bờ biển Trường Sa năm nọ còn gì đâu! Khói thuốc súng đã tan chẳng còn mùi dấu vết. Hận thù nào rồi cũng tự bào mòn mà phai theo năm tháng. Nhưng trăn trở trong tôi thì chắc chắn vẫn còn đây. Điều gì thực sự đã làm mũi súng của những người bộ đội ở Trường sa hướng về tàn sát chính đồng bào họ??? Biết bao giờ mới sáng tỏ…

Giữa tháng tư, từng tờ lịch đang lần lượt rơi mang theo nắng ấm mùa xuân, nhưng sao tôi vẫn thấy lạnh như còn mùa đông quanh quẩn. Phải chăng đây là những cơn gió lạnh từ oan khiên biển đông thổi về! Xin dâng một nén hương lòng để tưởng nhớ đến những người Việt nam đã bỏ mình trên đường đi tìm tự do.

“Giọt nước mắt thương con, con ngủ me mừng
Giọt nước mắt thương sông, ấp ủ rêu rong
Giọt nước mắt thương đất, đất cằn cỗi bao năm
Giọt nước mắt thương dân, dân mình phận long đong” (TCS)

*** Những câu chuyện kể trong bài viết này có thể có nhiều chi tiết lầm lẫn, vì người viết đã nghe thuật lại cách đây quá lâu.
Boston một ngày giữa tháng Tư, 2019
Trương Hữu

Hình Minh Hoạ