NGẮT HOA CÀI LÊN TÓC!!

Mời quý độc giả độc một bài rất hóm hỉnh trích trong đặc tập 40 Năm Văn Học Việt Nam Tại Nhật, bài của tác giả Bùi Bảo Trúc. Sự dễ thương nhí nhảnh trong văn phong của bài này có lẽ sẽ phần nào cho ta thấy lại một góc trong tính cách của ông “Ký giả Bê Tê” một thời thân thuộc này.

—————————————————————————
BÙI BẢO TRÚC (KÝ GIẢ BÊ TÊ)
Bài đăng trên Nguyệt san Hiệp Hội số 135 tháng 11/2001

NGẮT HOA CÀI LÊN TÓC!!

Thú thật với bạn, tôi không biết Võ Thị Sáu là người như thế nào. Tôi chỉ nghe tên nàng một đôi lần, và biết rằng tên của nàng nay đang ngự trị trên một con đường nào đó ở Sài Gòn. Nhưng bữa nọ, khi đọc bức thư của một nữ độc giả trẻ tuổi viết cho tờ báo của hội các nhà báo trong nước, tôi mới biết thêm được một chi tiết khác về người phụ nữ nầy.

Cô học trò lớp 12 ở Lâm Đồng viết cho ban biên tập của tờ báo rằng mới đây, cô có được xem một bộ phim của đài truyền hình trung ương, phim “Như Một Huyền Thoại” dựa trên kịch bản của Nguyễn Quang Sáng về cuộc đời chị Sáu, “người con gái đất đỏ”. Trong thư, cô học trò cho biết rất thích cuốn phim nầy, nhưng cô tiếc là nhà làm phim đã bỏ qua một chi tiết rất “đắt”. Cô cho rằng nhà làm phim đã bỏ phí chi tiết đó.

Theo cô học trò trẻ tuổi mà biết nhiều chuyện, trên đường ra pháp trường của thực dân Pháp, người anh hùng Võ Thị Sáu đã “ngắt hoa cài lên tóc” trước khi bị bắn. Tác giả bức thư hi vọng trong cuốn phim sắp tới, nhà làm phim của ngành công an sẽ không “bỏ phí chi tiết quí giá nầy”.

Tôi đồng ý chuyện ngắt hoa cài lên tóc là một chi tiết tuyệt đẹp. Một hành động rất đàn bà, rất làm đỏm, rất người, rất lãng mạn. Võ Thị Sáu nếu quả thật đã làm công việc đó, thì tôi phải xin lỗi nàng. Tôi vẫn nghĩ nàng nhan sắc phải như Viềng, người phụ nữ nửa người nửa ngợm mà Dương Thu Hương tả trong “Tiểu Thuyết Vô Đề” hay như mấy em du kích bà ba đen sắt máu, mặt mày vẩu viu mang vẻ đẹp như Chị Doãn của Vũ Trọng Phụng trong những bức hình chụp ở Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Theo tiết lộ của cô học trò, Võ Thị Sáu không những là một người anh hùng Cộng Sản, lại còn Ià một con người đầy nữ tính, trên đường ra chỗ xử bắn vẫn có một nỗ lực làm đẹp. Bỏ qua hành động lãng mạn nầy là một việc đáng tiếc.

Nhưng đó là trường hợp nếu Võ Thị Sáu thật sự có ngắt hoa cài lên tóc. Tôi thì nghĩ là không.

Cuốn phim về Võ Thị Sáu nhất định là một cuốn phim kể lại cuộc đời chống Pháp của chị Sáu. Hình ảnh chị Sáu phải được tạo ra bằng những nét hùng nhưng đẹp. Trong khi đó, hình ảnh của thực dân Pháp thì phải là những hình ảnh tàn ác, dã man. Chị Sáu chống Pháp, chị bị Pháp bắt, đày ra Côn Đảo, chị bị giam, chị bị tra tấn. Cuối cùng chị bị đem hành quyết. Tàn ác như vậy là không thua gì “chính phủ ta” chút nào.

Nhưng đưa thêm chi tiết để chị Sáu ngắt hoa cài lên đầu thì làm khó Tây thực dân quá.

Tưởng tượng chị Sáu, trong buổi sáng bị đem ra pháp trường, cai ngục Tây đến mở cửa chuồng cọp, kêu chị đi ra, Sáu đáp vọng ra bằng giọng nhõng nhẽo và ngái ngủ… “hổng có chiụ đâu” vì Sáu còn đang ngủ. Tây thực dân bèn lịch sự ra cửa đứng chờ, tay quây quây xâu chìa khóa, mặt mũi chằm vằm, hung ác. Nửa tiếng sau, Tây mũi lõ lại khua dùi cui vào chấn song, giục Sáu lè lẹ cho Tây bắn sớm về sớm còn nghỉ. Sáu đáp vọng ra rằng không ai được vào khi Sáu chưa…quét vôi xong. Chờ đã đời, cuối cùng, bôi son, trét phấn xong, Sáu mới bà ba lụa, nước hoa thơm lừng uốn éo đi ra. Tây tuy thực dân nhưng không quên nịnh đầm, bèn đứng nép sang một bên, mở cửa xà lim, nhường lối cho Sáu. Sáu bước ra, Tây thực dân ké né phía sau. Trên đường ra gần phi trường Cỏ Ống ngày nay, Sáu bỗng trông thấy những bông hoa rực rỡ mọc bên bờ đường. Sáu ngừng lại. Đám lính Tây cũng ngừng lại. Sáu ngồi xuống, nhìn những bông hoa đang cười trong gió sớm. Sáu ngước nhìn về phía đất liền. Những giọt lệ long lanh trên khóe mắt. Sáu ngắt lấy mấy bông, cài lên mái tóc mềm như tơ… Trong tay, Sáu cầm một bông, đi tiếp con đường tới pháp trường. Sáu ngó xuống những cánh hoa mọc đều quanh chị. Tay Sáu bứt một cánh, thổi cho bay trong gió Côn đảo. Sáu lẩm nhẩm: “Bác yêu Sáu…Bác không yêu Sáu…Bác yêu Sáu… Bác không yêu Sáu…” Khi chỉ còn cánh hoa cuối cùng thì cũng đúng là câu: “Bác yêu Sáu”. Võ Thị Sáu cười rạng rỡ, bước tới chiếc cột, nhìn thẳng vào những họng súng của tiểu đội hành quyết. Một loạt súng nổ vang, Sáu ngã xuống. Những bông hoa bay lơ phơ trong gió. Trên môi Sáu một nụ cười. Trong bàn tay phải, còn một cánh hoa…”Bác yêu Sáu”..”He loves me… he loves me not…he loves me…”

Truyện phim được viết lại như thế may ra mới “đạt yêu cầu” của cô học trò nhỏ. Chi tiết ngắt hoa cài lên tóc sẽ không bị bỏ sót. Các anh cán, chị cán còn xem nhất định sẽ khóc ầm lên mùi mẫn ví cảm động.

Nhưng như vậy, Tây thực dân lại có vẻ dễ thương hơn cách mạng mất thì sao?
Chị Sáu không thể ngắt hoa cài lên đầu như mấy anh chuyên viên truyền hình rẻ tiền của nhà nước ngồi tưởng tượng ra và đầu độc cô học trò nhỏ. Chị Sáu ít nhất phải bị đánh cho thừa sống thiếu chết, không thua gì cán bộ ta đánh tù Ngụy. Chị Sáu, khi bị đưa ra pháp trường chắc chắn cổ phải đeo gông, chân phải đeo xiềng, tay phải đeo còng. Chị bị điệu ra pháp trường chứ không phải được cho đi picnic mà nói chuyện hái hoa, ép bướm để mà ngắt vài bông hoa cài tóc cho đẹp gái. Chỉ cần đi chậm bước là chị có thể bị cho ăn báng súng lập tức, nói gì đến chuyện ngồi xuống vệ đường ngắt vài bông hoa làm đẹp. Mà lúc đó, chị đầu bù tóc rối trông như những người vợ…cũ (của mấy ông Tây) thì lấy đâu mà đẹp cho được.

Khổ quá, bây giờ đã gần cuối thế kỷ 20 mà sao còn ấm ớ như thế nầy?

Hai bậc anh thư quê ở Châu Phong thì “lau phấn son mưu thù nhà” chứ có bao giờ vừa đánh Tô Định vừa phải bôi Mascara, đánh rối tóc, vẽ eye shadow, thoa chút phấn, đánh tí son đâu…và khi nhảy xuống sông Hát, chắc chắn hai bà cũng không cần phải ngắt hoa cài lên đầu bao giờ hết.

Cô Giang trước khi tự tử, Bùi Thị Xuân trước khi chết đều không cần làm những cử chỉ lãng mạn rẻ tiền mà mấy cậu văn nô vẽ nhẩm ra như thế bao giờ.

Hay là chị Sáu thì đẹp não nùng, còn Tây thực dân tử tế hơn cách mạng nhiều?

Hình: chân dung cố nhà báo Bùi Bảo Trúc

Chân dung cố nhà báo Bùi Bảo Trúc

HỒI KÝ: THẰNG “NÁI NỢN”

BBT xin giới thiệu với quý độc giả một bài viết rất đáng yêu của một văn hữu hiện cư ngụ tại Úc châu. Một thời đã qua, bất công kham khó phủ lên mỗi phận đời, nhưng tình người và khát vọng sống vươn lên chưa bao giờ mai một. Kẻ ác có thể dùng súng đạn để tước đoạt tự do thể xác, nhưng tự do tư tưởng, tự do yêu thương, tự do sống trọn vẹn từng giây phút công chính và nghĩa tình thì chẳng ai có thể tước đoạt được. Anh “nái nợn” năm xưa, bây giờ đã hai màu tóc, đã lên chức ông và có cháu để ẵm bồng. Dòng đời vẫn cứ thế trôi, nhưng nghĩa tình thì vẫn còn đọng lại.

—-

Một chiếc xe lửa trong ga Nha Trang

THẰNG NÁI NỢN

Thằng nái nợn (lái lợn) là tên mà ông trưởng tàu (tài xế xe lửa) đã đặt cho tôi, trong một dịp tình cờ hết sức hi hữu, có nằm mơ tôi cũng không tin được đó là sự thật. Mãi cho đến về sau này, khi tôi hỏi ông thì ông chỉ cười và trả lời tôi rằng “thấy cậu tội“. Và cũng từ đó, tình cảm giữa tôi và ông ngày thêm khắn khít, cùng với những chuyến tàu dưới quyền điều khiển của ông, tôi gọi ông là Bố và xưng con.
Tên ông là Phương, Võ Hữu Phương, người Bắc, năm 1977 được thuyên chuyển vào ga Nha Trang làm tài xế xe lửa cho tuyến đường sắt Nha Trang – Sài Gòn. Các chuyến tàu do ông điều khiển là ”tàu chợ” nghĩa là ga nào cũng phải ngừng lại để thả khách xuống, và bốc khách mới lên tàu.

Hai năm sau ngày cộng sản chiếm miền Nam, sau các đợt đánh tư sản và đổi tiền, mọi thứ đều phải được quốc hữu hoá, các hợp tác xã dưới hình thức kinh tế tập trung đã được triển khai rộng rãi, chính sách hộ khẩu được áp dụng cho từng gia đình, người dân bị buộc ép mình vào khuôn khổ, nằm dưới sự chỉ đạo của đảng. Miền Nam hoàn toàn sụp đổ, mọi giá trị đều bị đảo lộn, một nền kinh tế khác được ra đời, không bị đảng kềm tỏa, nhưng bị kiểm soát vô cùng gắt gao. Buôn lậu!

Sau khi đã tạm ổn định được tình hình an ninh chính trị, cộng sản đã cho quốc hữu hoá tất cả mọi phương tiện, cơ sở vật chất, nhu yếu phẩm phục vụ đời sống con người đều lọt vào tay nhà nước, do nhà nước quản lý và phân phối. Buôn lậu là hoạt động duy nhất không nằm trong vòng kềm tỏa của cộng sản. Buôn lậu là con đường duy nhất để sống còn dưới chế độ cộng sản. Những người không có gan để buôn lậu thì tuôn đồ nhà ra bán, để duy trì kiếp sống vật vờ, không thấy tương lai.

Tôi cũng như muôn ngàn người dân miền Nam khác, cũng phải nhào ra đường giành giật, bương chải kiếm miếng ăn, từ buôn chợ trời, buôn xăng lậu, buôn sách báo (đồi trụy) trên mặt của cái Poncho là quần áo cũ, dưới lớp quần áo cũ là những Vòng Tay Học Trò, Về Miền Đất Hứa, nhật báo Trắng Đen, Đại Dân Tộc, Sóng Thần (báo cũ trước 1975, nhưng không có đủ để bán) tấm Poncho được Trải ra giữa chợ, trên đó là những thứ tôi bán để mưu sinh hàng ngày, thấy bóng dáng công an là túm gọn lại vác lên vai chạy biến vào chợ đông đảo. Đời sống vất vưởng, suốt ngày rong ruổi ngoài đường, chờ đến tối mới dám về nhà, tránh những cặp mắt cú vọ của công an, và đám phường đội rình mò để bắt đi nghĩa vụ quân sự. Cuộc sống đầy bất an, mình không làm chủ được cuộc đời mình.

Sau này nhờ quen biết qua đời sống chợ trời, có người rủ tôi đi buôn heo, một vốn bốn lời, một con heo sống nếu lọt được từ Nha Trang vô đến Sài Gòn là coi như ngon cơm, nhưng để có được một con heo sống từ Nha Trang vào đến Sài Gòn là cả một vấn đề không ngon cơm chút nào, đôi khi mất cả chì lẫn chài, cười ra máu mắt. Nhưng đối với tôi, việc buôn heo lại là một thử thách, hơn nữa là dịp để tránh xa địa phương, không bị đám phường đội để ý đến.

Công việc đầu tiên của người buôn heo trước hết là phải bắt cặp với một anh chạy xe ba gác, để dùng làm phương tiện chuyên chở heo, coi như kẻ kiếm cơm, người kiếm cháo, lâu ngày thành quen thân luôn, nương nhau mà sống.

Ban ngày tôi đạp xe đạp rong ruổi trong các làng quê để tìm mua heo, heo được mua phải lựa giống heo tốt, ít mỡ, nặng trên dưới 60 kg, nếu nặng hơn nữa thì heo khó cơ hội sống sót trên tuyến đường dài 450km, trên một chuyến xe lửa chật chội, đông đúc, từ Nha Trang vào Sài Gòn (nghề dạy nghề, kinh nghiệm dạy cho tôi biết heo tốt heo xấu). Heo được ngả giá xong xuôi, trao tiền cọc, tôi trở về thành phố, cùng anh ba gác trở lại để bắt heo, heo được bắt bỏ vào trong cái rọ, đem lên xe ba gác trở về thành phố để gửi vào khu xóm nhà cạnh đường rầy ga Nha Trang, chờ đêm sau chở vào Sài Gòn bán. Trên đường đi phải luồn lách để tránh gặp các hung thần (quản lý thị trường) của chế độ, nếu bị bắt gặp, coi như mất trắng con heo.

3 giờ sáng, ga Nha Trang đã nhộn nhịp trở mình sau một đêm tạm yên ắng, tiếng nói của những người buôn bán (lậu) dọc tuyến đường Nha Trang – Sài Gòn gọi nhau, hối thúc , các quán cà phê trước ga cũng bắt đầu mở cửa để bán cho dân buôn, từng món hàng lậu được chuyển lên xe lửa, giấu kín dưới hàng ghế ngồi, phải làm ngay, làm gấp, trước 5 giờ sáng, giờ xe lửa khởi hành để tránh quản lý thị trường theo xe lửa để kiểm soát bắt hàng lậu. Khách đi chuyển bằng phương tiện xe lửa cũng đã leo lên để tìm cho mình chỗ ngồi thoải mái hơn, chẳng mấy chốc các toa xe lửa đã đầy nghẹt người, ai chậm chân thì phải ngồi ngay dưới sàn xe lửa, các món hàng lậu xách tay, vài ký thuốc lá Lạng Sơn, một ít nước mắm, năm bảy ký cá khô , đều đã được đậy kín, ngụy trang cẩn thận, nhét khắp nơi. Những tiếng động đặc trưng của con tàu chợ cộng thêm tiếng chửi rủa giành nhau chỗ ngồi, tạo thành một thứ âm thanh hỗn độn của một buổi chợ ồn ào.

Vị trí con heo của tôi đã được tôi tính toán cẩn thận, heo đã được tôi và anh bạn ba gác cho nằm ngay dưới hàng ghế ngồi của xe lửa, sát cạnh cửa lên xuống của toa tàu, mõm heo được đặt quay ra ngoài hướng ra cửa để tiếp xúc không khí, trong ba lô tôi là vài ký sắn nước (củ sắn) được đặt dưới chân để cho heo ăn dọc theo đường, nếu không heo sẽ chết vì thiếu nước và ngộp. Khi tàu về tới Sài Gòn là heo đã được sẵn sàng phóng xuống khi tàu rề rề chạy vào ga. Nhà ga cuối cùng để dân buôn heo như tôi, tuôn heo xuống là ga Hoà Hưng, vì nếu tuôn heo không kịp, thì tàu qua ga Hoà Hưng để vào Ngã Sáu Sài Gòn là coi như thua, vì không còn chỗ để tuôn heo xuống nữa, coi như mất trắng công trình vất vả một ngày, một đêm, đem con heo từ Nha Trang vào Sài Gòn. Vì lý do này, dân buôn lậu đã nghĩ ra được một phương pháp làm trì hoãn chuyến tàu, bằng cách tháo ống dẫn hơi được nối từng toa tàu một với nhau ở giữa mỗi toa tàu, khi ống dẫn hơi được tháo gỡ thì chỉ có những toa tàu nào còn gắn với nhau cùng đầu tàu mới chạy được, những toa sau trở thành bất khiển dụng, phải chờ ráp lại thì mới chạy tiếp được, dân buôn lậu có thời giờ để tuôn hàng xuống.

Nỗi kinh hoàng của dân buôn heo tụi tôi là đám quản lý thị trường, chúng là hung thần của dân buôn lậu, chúng lên xuống bất chợt, kiểm soát bất cứ nơi nào chúng sinh nghi, chúng đi thành từng cặp, một nam, một nữ, tay quấn băng đỏ với bốn chữ “quản lý thị trường” chúng xuất hiện ở cuối tàu là giữa tàu và đầu tàu nhốn nháo, bàn tán phương thức tẩu tán hoặc giấu kín làm sao trước khi chúng đến.

Nỗi kinh hoàng thứ hai là dân đốt than, lấy củi từ rừng chở về Sài Gòn tiêu thụ, đoạn đường từ Nha Trang vào Sài Gòn có hai nhà ga mà dân làm củi hoạt động mạnh nhất là ga Bình Tuy và ga Long Khánh. Khi tàu dừng ở hai ga này thì không biết từ đâu, dọc hai bên tàu, từng bó củi đã được cột chặt chẽ, từng thân cây củi với đường kính khoảng 20 Centimeter, đã được cưa ngắn phóng vun vút lên tàu, bất chấp tiếng người la hét phản đối, bất kể đến sự an toàn của người khác, lâu ngày thành thói quen, cứ tàu đến ga Bình Tuy và Long Khánh thì tự động hành khách trên các toa tàu đều phải dồn về hai bên cuối toa chừa chỗ trống hai bên cửa cho dân buôn củi tuôn củi lên. Vì việc đó xảy ra hàng ngày , nên tai nạn hoặc thương vong do củi mang tới là không thể tránh khỏi. Nếu có tai nạn xảy ra, xây sát chút đỉnh thì không sao, nếu như bị nặng quá thì không ai biết thủ phạm là ai, vì lúc đó không ai dại gì đứng ra nhận mình là chủ của số củi vừa mới được tuôn lên, người bị nạn thì phải gánh chịu thương tật , hoặc tử vong mà không truy cứu được ai.

Thỉnh thoảng có những con heo vì bị khát , hoặc do bị ngộp vì không gian quá chật chội, nóng bức trên tàu nên đã chết dọc đường khi chưa vào đến Sài Gòn. Khi trường hợp này xảy ra, người chủ phải nhanh chóng quyết định làm thịt con heo liền, bằng cách liên lạc với những tay (đồ tể) là những người di chuyển từ toa này đến toa khác để bán hàng vặt, trả cho họ một số tiền, họ sẽ lôi xác con heo ra ngoài chỗ giữa hai toa tàu để thọc huyết cho máu ra hết để giữ heo lâu hơn về đến Sài Gòn, dĩ nhiên chuyến buôn đó coi như bị lỗ, vì heo chết sẽ được bán bằng mọi giá để lấy lại chút vốn.

Hôm ấy! Khi tôi và anh bạn xe ba gác, vừa khiêng con heo trong cái rọ, từ trong xóm nhà nằm sát đường xe lửa, phóng ra để băng ngang đường rây hướng về con tàu đang nằm cách chúng tôi khoảng 30 mét, bỗng một tiếng la to “quản lý thị trường“ tiếng hô làm hai thằng tôi chới với, vì đang ở giữa khoảng cách giữa xóm nhà và con tàu. Chới với vì không ngờ chúng lại xuất hiện ngay lúc này. Làm sao đây? Quay về lại xóm nhà thì chúng sẽ thấy, tiếp tục đi tới thì không biết sẽ giấu con heo ở đâu? Thật là tiến thối lưỡng nan, vừa khiêng con heo, vừa suy nghĩ, khiến tôi vấp phải một đường rây té sấp xuống mặt đất, anh bạn xe ba gác phía sau tôi cũng loạng choạng té ngã theo tôi, con heo bị rớt xuống đất kêu la inh ỏi, tôi cố gắng quay qua anh bạn bảo: anh hãy chạy đi đừng để chúng bắt được sẽ biết mặt khó làm ăn sau này. Anh bạn nghe lời tôi, vùng lên bỏ chạy về hướng xóm nhà. Riêng tôi vì đau quá, đầu bị đập xuống đất bị toét chảy máu, chân thì bị trật đau thấu trời xanh, bỏ con heo đó , tôi vùng lên chạy khập khiễng vượt qua đầu tàu hướng về một con tàu khác đậu gần đó. Đang khập khiễng chạy, bỗng nghe một tiếng gọi “thằng nái nợn“ tôi làm như không nghe thấy vẫn tiếp tục chạy, tiếng kêu to hơn “thằng nái nợn, nên đây mà trốn nhá“ Tôi quay đầu lại, nhìn về phía đầu con tàu, một thân hình chồm hẳn ra ngoài phía cửa đưa tay vẫy vẫy tôi, tôi chạy ngược về phía đầu tàu, đứng dưới chân cầu thang mà không sao đặt chân bước lên được vì đầu tàu quá cao. Ông tài xế xe lửa phải bước hẳn xuống nắm tay tôi kéo lên vào bên trong phòng lái, ông lấy khăn lau máu cho tôi , rồi bảo tôi “cứ ngồi đó cho đỡ đau, không việc gì phải hãi cả, tao chịu trách nhiệm con tàu này”.

Sau khi đỡ đau và lấy lại bình tĩnh, tôi cám ơn ông giúp tôi trốn trên tàu để không bị đám quản lý thị trường phát giác, tôi hỏi tên ông và được ông cho biết tên ông là Võ Hữu Phương, mới vào Nam công tác được vài tháng với công việc lái tàu, hiện đang ở chung với cán bộ của ngành đường sắt. Ông có ý định đưa vợ và hai cô con gái vào Nha Trang sinh sống luôn, nhân tiện ông cũng đã bộc lộ về tình cảm của ông dành cho miền Nam từ những ngày đầu tiên bước vào Nam, đặc biệt là thành phố Nha Trang mà ông nói là rất yêu mến thành phố biển này. Tôi hỏi ông là tại sao phải có mặt trên tàu sớm vậy, ông nói, tánh ông vẫn vậy xưa nay, đến ngày ông làm việc là ông đến con tàu rất sớm để xem xét cũng như chuẩn bị mọi việc cẩn thận, trước khi con tàu lăn bánh, đó cũng là dịp may hi hữu cho tôi gặp được ông, để được ông giúp đỡ.Trò chuyện khá lâu, trời cũng dần sáng, ông dìu tôi bước xuống thang để cho tôi đi về lại xóm nhà nằm bên kia đường rầy, ông và tôi chúc lành nhau, cũng như trao đổi địa chỉ để sau này thăm viếng. Tôi bước về hướng xóm nhà, lòng dậy lên một niềm vui vì đã gặp được một người tử tế giữa một xã hội nhiễu nhương, con người đạp lên nhau chỉ vì miếng ăn.

Tôi cũng quên bén luôn số phận của con heo, không biết sống chết thế nào, hay là người dân trong xóm đã khiêng vào xẻ thịt mất rồi cũng nên.
Tôi quen Bố Phương từ đó, sau chuyện đó, mỗi khi có được ngày nghỉ ông thường hay ghé nhà thăm tôi, hoặc hẹn tôi ở một quán nào đó, hai bố con nói chuyện suốt buổi. Đến giữa năm 1978 thì tôi bộc lộ ý định ra đi của tôi. Tôi rủ ông cùng đi, rủ ông đi, nhưng tôi biết ông sẽ không ra đi, bởi lẽ vợ và hai cô con gái vẫn còn ở ngoài Bắc. Ông sẽ không ra đi khi vợ con không có bên cạnh, và tôi cũng biết rằng, con người ông với cá tính không ưa bất công, sớm muộn gì ông cũng sẽ ra đi, và tôi đã đoán đúng. Cuối năm 1979, khi tôi còn đang ở trong trại tị nạn Nhật Bản, thì tôi nhận được điện tín từ người em gái của ông cho biết , gia đình của ông đã ra đi……..ra đi vĩnh viễn. Con tàu vượt biên tìm tự do trên đó có gia đình ông, ra đi từ Hải Phòng đã không thể nào đến được Hong Kong……… vì hôm đó trời bão rất mạnh.
Ở trên cao ấy , ông có thấy thằng nái nợn đang hồi tưởng về ông ….. Bố Phương.

Tri Le

THƠ: CHÂN DUNG CHỊ

Với cái duyên qua một vài bài viết trong “Đặc Tập 40 năm Văn Học Tại Nhật”, nhất là bài của dân xuất xứ Okinawa, anh em chúng tôi đã nối lại được khá nhiều những đứt quãng giữa chừng, trong đó có một cô. Dạo đó cô còn bé lắm (1980) 9, 10 tuổi hay sao đó, nhưng tôi rất ngạc nhiên vì những theo dõi rất xít xao của cô về những khuôn mặt thời đó còn hay đã mất, các ấn phẩm như Người Việt Tự Do, Hệ Tư Tưởng Việt Đạo.. Theo như đương sự thổ lộ thì: “cháu thích đọc báo của mấy chú, thich văn chương có lẽ thừa hưởng từ gene của người mẹ, nên buồn buồn cháu cũng tập viết lách”. Vài năm sau cô định cư ở Toronto, và cô đã đóng góp khá nhiều bài vở cho các tờ báo ở hải ngoại. Mừng như bắt được vàng, tôi….”chộp” ngay cô và nhờ cô tiếp sức với Nam Nghệ Tân Xã. Cô vui vẻ nhận lời. Mời quân ta đọc bài thơ “giao duyên” đầu tiên của cô gửi đến tụi tôi, mong cô sẽ còn góp mặt dài dài trong tâm tình “người cùng một nhà” nhé.
—————————-

Ảnh minh họa


Chân dung chị

Chị run run
Tay mở từng góc
Trang giấy vàng dọc ngang nếp gấp như những đường chỉ tay chi chít
Nát nhàu
Chị run run
Bàn tay hốt hoảng ôm lấy sợi giây chuyền mặt Phật
Xoay xoay, giữ chặt
Xoay xoay, niệm
Mùi dầu xanh con ó xùng xục mũi 
Chị lật qua lật lại mặt dây chuyền tượng Phật
Nhích sang trái, nhích sang phải
Giữa hai cái xương nhô gầy guộc
Như thể tìm một vị trí nào đó – phòng vệ
Ánh mắt chị ngây dại nhìn tôi
Tôi nhìn vào mắt chị
Giữ yên
Tờ giấy vàng Record of Landing
Nhoè chữ
Riêng
Citizen of
STATELESS
Vẫn còn rõ nét 
Tôi nhìn khoảng trống không trong mắt chị
Là chân dung tôi

Nguyễn Diễm Thùy

TRUYỆN NGẮN: TỜ BÁO CŨ

NNTX xin giới thiệu với bạn đọc một truyện ngắn đặc sắc của một cây bút từng làm mưa gió trên văn đàn người Việt tị nạn tại Nhật mấy mươi năm trước. Anh hầu như đều ký bút danh khi viết, nên cho tới bây giờ, độc giả vẫn rất nhiều người chưa biết anh là ai, tên họ là gì, quê quán ở đâu… Tuy nhiên, dấu ấn của anh để lại trong lòng của độc giả vẫn rõ ràng hiển hiện dù sau nhiều dâu bể thăng trầm. Hôm nay, NNTX xin trích đăng lại truyện ngắn này, chắc chắn sẽ có nhiều người nhận ra và nhớ đến giọng văn nhẹ nhàng sâu lắng nhưng chất ngất tính hiện sinh này. Tác phẩm này cũng được in trong đặc tập “40 Năm Văn Học Việt Nam Tại Nhật”.
Về tác giả, NNTX xin bật mí một chút, là anh vẫn đang vui vẻ sống và làm việc tại thủ đô Đông Kinh.

TỜ BÁO CŨ

Tuấn trở lại Okinawa sau hơn 30 năm xa cách. Chữ “xa cách” trong tiếng Việt, thường được dùng cho những đôi tình nhân xa nhau hoặc người tha hương xa quê cha đất tổ. Đối với Tuấn, Okinawa ngoài ý nghĩa của quê hương tạm dung cháy bỏng hoài bão trong những năm tháng đầu tiên xa lìa đất mẹ Việt Nam, nơi đây đã chôn cất một phần tâm hồn mình cùng với khói hương cuộc tình đầu.

Một góc Okinawa ngày nay


Máy bay lượn vòng chầm chậm trên bầu trời tháng 3 nhiều mây của dãy đảo nhiệt đới tận cùng phương Nam Nhật Bản này trước khi đáp xuống phi trường Naha tấp nập khách du lịch. Nhìn mây nước bốn bề bao quanh, lòng không khỏi bồi hồi vì sao mà hơn 30 năm trước đây, số mệnh nào lại đưa đẩy mình đến một hòn đảo chơ vơ lạc loài giữa biển khơi như thế này. 
Okinawa là tên gọi có ý nghĩa “làng đánh cá ngoài khơi” xuất xứ từ thổ ngữ của vương quốc Ryukyu với lãnh thổ có nền văn minh biển, hùng cứ dải đảo nằm giữa Kyushu và Đài Loan trong vòng 450 năm từ 1429 cho đến khi chính thức sát nhập thành một tỉnh của Nhật Bản vào năm 1879. Okinawa mang ý nghĩa của biển khơi, lồng lộng gió mưa và du khách bốn phương đến đây có thể cảm nhận những ngọn gió, những cơn mưa chợt đến chợt đi như chưa từng quyến luyến ấy đã làm nên phong thổ sinh động và tính cách phóng khoáng, rộng mở của người dân xứ đảo.
Cách đây 37 năm
Sau gần một tháng lênh đênh trên biển, tàu đánh cá cứu vớt nhóm ghe Tuấn cập bến cảng Naha đã có nhân viên Hồng Thập Tự đón sẵn đưa ngay về trại tỵ nạn. Tháng 4, những đợt nắng đầu Hè rọi chiếu vào chỗ ngồi trên xe buýt sang trọng đầu tiên trong đời được ngồi lên đã tạo nhiều kích thích cho cuộc đời mới trước mặt, giúp mọi người trong nhóm tạm quên những suy nghĩ buồn đau, tuyệt vọng trên chiếc ghe nan tre ọp ẹp lúc nào cũng như sẵn sàng tan nát bởi một cơn sóng mạnh. 
Đó là chuyến đi đầy hãi hùng đã khiến Tuấn buồn nôn đến gần nghẹt thở khi nhìn thấy biển trong những ngày đầu tiên đặt chân lên đất liền bởi những ám ảnh của màu biển xám ngắt trong cơn giông, màu đen chết chóc lúc về đêm và màu xanh sạm tái ghê rợn ngay giữa ban ngày ở những vùng nước sâu nguy hiểm. 
Phải nửa năm sau thì chấn thương tinh thần này mới hồi phục, cũng là lúc Tuấn bắt đầu thấy hấp dẫn trước màu xanh lục bảo ngời sáng từ những khoảnh biển san hô đó đây khắp đảo dưới mây trời rực nắng. Lúc đầu, không biết đó là san hô mà chỉ nghĩ một cách thô thiển là do nước biển có rong xanh. Cô bạn gái người Nhật, Yuki, trong làng bên cạnh trại tỵ nạn đã cố gắng giải thích bằng vốn liếng tiếng Anh trung học của mình. Tuấn vẫn chưa hiểu, vậy là Chủ Nhật sau đó hai đứa kéo nhau ra biển, nàng vừa lặn vọc san hô vừa thuyết minh trong khi Tuấn cứ mãi sững người vì bộ đồ tắm bó sát thân thể con gái 18 tuổi. 
Rồi sau đó là những đêm trăng, dưới tán lá mía xào xạc gió Thu, hai đứa bập bẹ kể nhau nghe giấc mơ của mình. Cho dù không một ánh đèn, chỉ với ánh trăng soi, Tuấn vẫn thấy má Yuki ửng hồng mỗi khi câu chuyện gặp chỗ tương đồng. Chế Lan Viên có câu thơ thật hay về tình cảm quyến luyến với nơi mình đã sống:
Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở.
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!
Chính nhờ Yuki và tình yêu trong trắng của nàng đã giúp Tuấn thiết tha hơn với cuộc sống nhiều chán ngán của kiếp tha hương. Okinawa sẽ chỉ là một nơi tạm dừng chân để rồi dần dà mai một cùng trí nhớ nếu không có những kỷ niệm tình yêu rực rỡ đó. Nhờ Yuki, Tuấn thấy bên dưới núi rừng đất đỏ bazan khô cằn là mầm sống của những cánh đồng dứa bạt ngàn mỗi năm 2 mùa thu hoạch và từng cơn gió thổi giật tung hàng cọ dừa khẳng khiu nhưng bền bĩ đều mang thông điệp trời đất giao mùa. Khi yêu nhau, con người hay ngước lên nhìn trời ngắm trăng cũng như cúi xuống chạm gần cây cỏ, cảm xúc lồng lộng trong tim của tình yêu cần đến tự nhiên như một loại giao diện để chia sẻ với ngoại giới. Nếu xem tình yêu như một thứ năng lượng, thì tự nhiên là nơi để trung hòa những rung động thác loạn đó. Có dạo Yuki cũng đã nói với Tuấn: 
– Trước khi anh đến, Okinawa không đẹp như vầy. Tại sao thế nhỉ?
Đó là câu nói cho thấy Yuki đã yêu chàng, khiến Tuấn luôn luôn bồi hồi mỗi khi nhớ lại để mỗi lúc mỗi trói cột lòng mình vào đất đảo này.
Mặt khác, cuộc sống hằng ngày nóng ruột đợi chờ quyết định định cư nước thứ ba cũng khiến cho thời gian trong trại như kéo dài dằng dặc. Ngoài việc đi làm dành dụm chút tiền gửi quà về cho gia đình tại Việt Nam, Tuấn tham gia hầu hết các hoạt động chung như tổ chức thực hiện các lớp học tiếng Việt, toán, tiếng Anh cho trẻ em, thành lập đoàn Hướng đạo sinh, văn nghệ Xuân…cho mau qua ngày tháng thấp thỏm. Món quà tinh thần duy nhất mỗi tháng là tạp chí Người Việt Tự do (tiền thân của Nguyệt San Hiệp Hội) được gửi từ Tokyo xuống và đây là nguồn thông tin đều đặn đứng đắn nhất để qua đó tìm hiểu tình hình thế giới thời chiến tranh lạnh cũng như sự điêu tàn của quê nhà dưới chế độ toàn trị. Mỗi cuốn báo vào thời điểm đó hoàn toàn không có nghĩa của một loại hàng tiêu dùng xem rồi bỏ mặc nhưng đã được tất cả độc giả tỵ nạn không những chuyền đọc mà còn trang trọng cất giữ để đêm đêm nghiền ngẫm chờ số báo mới. Tuấn vẫn còn nhớ, khi đến lân la trò chuyện tại phòng ở của bạn bè trong trại, các số báo được xếp ngay ngắn trên các giá tủ gỗ đóng tạm hình như còn có ý nghĩa biểu lộ “trình độ” của chủ nhà. 
Tạp chí Người Việt Tự Do cũng đã tạo nên một phong trào thú vị trong cuộc sống buồn tẻ: làm báo. Có được chút ít tiền khi làm thuê bên ngoài, các anh em trong trại rủ nhau đi mua bộ stencil roller và mực in sau khi mượn văn phòng quản lý trại máy đánh chữ để bắt đầu tập tành viết lách và “xuất bản”. Các văn tài bích báo thời trung học cũng như đại học của toàn trại đã được huy động tập trung sáng tác. 
Đêm đêm đó đây trong các căn phòng, bóng đèn điện vàng tỏa ánh sáng tù mù trên các bàn viết đóng bằng ván ép và các tông ọp ẹp, các “nhà văn” nặn óc vật lộn với từng con chữ, sáng tác bên ly cà phê Nestlé bột hòa tan và khói thuốc đốt liên tục điếu này sang điếu nọ để tìm hứng. 
Ngày Chủ Nhật nọ, Tuấn dẫn Yuki vào trại phụ làm báo. Căn phòng 25 mét vuông của anh vốn đã chật, bây giờ lại càng thốc thếch hơn nữa với các loại giấy mực và dụng cụ in ngổn ngang đến nỗi Yuki đã phải nhón gót, không dám áp sát lòng bàn chân xuống vì sợ dính mực và giấy rác.
Thời đó hầu hết trại tỵ nạn đều xảy ra tình trạng thiếu gái thừa trai do cánh phụ nữ ít ai dám mạo hiểm vượt biển hơn đàn ông. Nghe nói có cô gái Nhật đến giúp, thanh niên cả trại bừng bừng sinh khí, nhộn nhịp đón chờ. Cả đêm trước đó, nhiều cuốn tự điển đã được lật ra để tìm những câu chữ tiếng Anh có thể mang ra giao tiếp làm quen với cô gái trẻ. Biết là đến để phụ việc in ấn, hôm đó Yuki mặc quần jean yếm và áo xanh dương đậm. Gam màu sẫm chỉ càng làm nổi bật hơn khuôn mặt trái xoan trắng mịn và dáng người vừa vặn của nàng. 
Tuấn dạy cho Yuki cách xếp trang và đóng gáy. Dù lúc đầu có hơi chậm so với người khác nhưng chính nhờ sự cẩn thận vốn có, hai tiếng đồng hồ sau đó, không một ai có thể làm được công việc này nhanh gọn và đẹp mắt hơn Yuki. 
Đến gần nửa đêm, công việc tạm xong. Tuấn tặng Yuki quyển báo đầu tiên của số báo đầu tiên. Dù không biết đến nửa chữ tiếng Việt nào, nàng cảm động cầm lấy và nói:
– Em sẽ cố gắng học để có thể hiểu những dòng chữ trong đây, trước tiên là có thể nói chuyện được với anh bằng thứ tiếng mà anh đã yêu như em yêu tiếng Nhật của mình.”
Tuấn đưa nàng về, gió khuya nhè nhẹ. Tiếng đàn 3 dây sanshin vẳng lên từ nhà ai, mênh mang xa vắng. Âm nhạc là nghệ thuật sử dụng âm thanh để diễn tả tình cảm của con người. Mà con người từ khi sinh ra đã tìm đến nhau để rồi trói buộc nhau bằng sợi dây có tên gọi là dân tộc. 
Mỗi dân tộc đều có một số phận riêng, số phận đó dường như đã được thể hiện trong âm sắc riêng biệt ở nhạc cụ truyền thống. Bao hưng phế chiến chinh để rồi chìm đắm và thoát thai vào lòng một dân tộc xa lạ của đất đảo này như đã hiện hết vào âm hưởng kể lể day dứt của tiếng đàn sanshin đêm nay. Yuki bỗng nói: 
– Em cảm thấy lạnh!
Hiểu ý người yêu, Tuấn choàng tay lên vai nàng. Đôi đứa đi chậm hơn chút nữa như muốn đoạn đường về nhà thêm xa. Bãi mía ban ngày xanh ngắt phất phơ ngàn lá nhưng khi đêm xuống trông giống như vô số bóng người xõa tóc rũ rượi. 
Giữa mùi đất ẩm ướt nồng nàn sau cơn mưa sáng nay bốc lên từ ruộng mía hai bên đường làng có lẫn chút mùi dầu mực in từ áo quần, vẫn không thể ngăn cản khứu giác của Tuấn tìm đến mùi hương nhẹ êm lâng lâng từ mái tóc rối chưa kịp chải lại của Yuki sau một ngày dài phụ giúp Tuấn làm việc. “Anh xa em thật rồi, làm sao quên mùi tóc….” . Chính chàng cũng không biết được rằng đây là thời khắc với mùi hương trên tóc đó sẽ đọng mãi trong ngăn kéo ký ức của đời mình. 

Đứng trước thềm đá cũ của trại tỵ nạn ngày xưa giờ đã xanh um cỏ dại và bóng chiều xa vắng như làm lòng người về thăm cảnh cũ thêm ngân nga, chấn động. Tuấn chầm chậm đánh xe nhiều vòng trong khu trại cũ. Ngày xưa đây là bếp nấu ăn tập thể nơi các mẹ các chị bỏ công sức nấu từng bữa ăn chăm sóc sức khỏe mọi người trong trại. Khu văn phòng quản lý có các anh chị thông dịch tận tình giúp đỡ những đồng bào đến sau mình. Sân bóng đổ mồ hôi, hét hò, cổ vũ, cuồng nhiệt, thanh xuân.v.v… 
Tuấn dừng lại trước căn phòng của mình mà bây giờ chỉ còn có thể nhận ra bằng cây bông sứ Yuki đã trồng tặng trong dịp tổng vệ sinh toàn trại. Ai đó đã không nhẫn tâm chặt đổ khi đập nát khu nhà để chuẩn bị mặt bằng cho một công trình xây dựng mới. Giữa hoang phế đìu hiu, màu bông sứ trắng luống nghẹn ngào đó như xé nát lồng ngực chàng. Hơn 30 năm rồi, màu kỷ niệm vẫn chẳng chút phôi pha. Bất giác, Tuấn thốt lên khe khẽ : “Yuki ơi, anh nhớ em thật nhiều”. 

Sau khi thi đỗ vào đại học, Yuki đã chọn Khoa Ngoại văn với quyết tâm không hề lay chuyển là làm sao có thể đọc và hiểu những trang báo mà Tuấn đã viết và tặng nàng vào đêm Chủ Nhật đó. Ước mơ của nàng trước sau như một là được làm việc cho người tỵ nạn và sau đó sẽ kết hôn với Tuấn. Học xong cử nhân, để có thể trau dồi thêm tiếng Việt chuyên sâu bằng luận án thạc sĩ về ca dao tiếng Việt, Yuki quyết định ở lại Okinawa thêm đôi năm nữa trước khi rời quê hương để chính thức về sống chung với Tuấn đang định cư tại phố cảng Yokohama. Thuở ấy chưa có e-mail, mỗi tối khi đi làm về, việc đầu tiên của Tuấn là lục soát thật kỹ hòm thư của mình. Hai bên đã giao ước là mỗi tuần phải viết thư luân phiên bằng hai loại ngôn ngữ Việt Nhật để san sẻ thông tin cũng như học hỏi tiếng nói của nhau. Yuki kể chuyện học, còn Tuấn cố gắng diễn tả công việc xã hội dấn thân cho cộng đồng của mình, trong đó đáng kể nhất là những khó nhọc khi xuất bản một nguyệt san hằng tháng. Và dường như tất cả khó nhọc đó đã tiêu tan sau mỗi dòng tái bút của Yuki : “Em luôn yêu anh và sẽ cố gắng học giỏi tiếng Việt để phụ giúp anh làm báo”.
Cho đến một ngày kia, hòm thư của Tuấn có một phong bì to, trong đó có lá thư của Yuki và cuốn báo cũ mà chàng đã tặng vào đêm Chủ Nhật ngày nọ. Vội vàng bóc thư ra, dòng chữ yếu ớt của Yuki như chôn liệm hồn chàng: “Anh yêu, em biết là mình sẽ khó có thể giữ mãi được kỷ vật này khi cơn bạo bệnh hiện nay sẽ cướp em ra khỏi anh trong một ngày không còn xa nữa….”


Tuấn ngồi xuống trên bậc đá trước thềm phòng cũ, màu chiều chợt vàng hơn. Hàng cọ dừa ngoài đường làng vắng vẻ bần bật thảm thiết bởi gió triều từ khơi xa thổi lộng như để bảo bọc cho cây bông sứ cô đơn nở màu trắng ngần. Bông ơi, vậy mà mi vẫn sống! Chiến tranh, ly tán, đói nghèo, tử biệt…tại sao con người phải mãi sống trong quá nhiều bi kịch đổi thay giữa một dòng đời sừng sững chầm chậm cuộn chảy. Bông kia rồi không biết còn nở đến được ngày nào để thỉnh thoảng Tuấn lại về đây ngồi tưởng nhớ người xưa với tờ báo cũ trên tay. 
Mười năm qua gió thổi đồi tây
Tôi long đong theo bóng chim gầy
Một sớm em về ru giấc ngủ
Bông trời bay trắng cả rừng cây *

Văn Tuấn
(Viết để chia tay Nguyệt san Hiệp hội)

*Thơ Phạm Công Thiện

TỪ NAM NGHỆ XÃ ĐẾN NAM NGHỆ TÂN XÃ

Một số thành viên của Nam Nghệ Xã

1. Bối cảnh thành lập Nhà xuất bản Nam Nghệ Xã

Sau ngày đen tối 30/04/1975, đúng như dự đoán của nhiều người, chiến dịch thu gom sách báo, mang đi đốt hay hủy bỏ, đã được triển khai rầm rộ tại khắp các tỉnh thành Miền Nam Việt Nam. Nhiều người yêu sách đã lặng người, chết đứng khi nhìn cảnh những học sinh đeo băng tay đỏ đến từng nhà, từng tiệm sách, từng thư viện, trường học, v.v. vơ vét tất cả sách vở, báo chí, ấn phẩm văn học, v.v. lên xe, chở về những nơi thu gom theo chỉ thị của chính quyền.

Chiến dịch đốt sách tại Miền Nam Việt Nam Tháng 5, 1975 được ví như chiến dịch đốt sách của Tần Thủy Hoàng từ năm 213 trước Công nguyên. Mục tiêu chính vẫn là bài trừ mọi luồng tư tưởng khác với chủ thuyết, chính sách của chế độ cầm quyền.

Trong khi ấy, từ những ngày sau Tháng Tư Đen năm 1975, tại Nhật Bản, những người yêu sách trong giới sinh viên, tị nạn Việt Nam thì nâng niu, truyền tay nhau đọc những tập sách quý hiếm xuất bản tại Miền Nam, và đã may mắn được mang đến Nhật trước năm 1975. Càng biết là trong nước, sách báo đang bị hủy đốt, thì người Việt tại hải ngoại càng trân quý sách báo. Tại Nhật Bản, những người có trong tay những nguyệt san, tác phẩm văn học, lịch sử, tư tưởng, triết học v.v. có giá trị, xuất bản tại Miền Nam, đã tự tay sao chép, in lại một số tác phẩm đặc biệt được yêu chuộng, in thành nhiều bộ, bằng giấy tím và đóng bìa bằng phương cách rẻ tiền nhất vào thời đó, để phân phối cho bạn bè, những người có nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu. 

Cùng lúc, nhu cầu phát hành nguyệt san, đặc san, v.v. ngày càng trở nên cấp bách trong cộng đồng người Việt tại Nhật nhằm giúp chuyển tải những tin tức liên quan đến tình hình trong nước, tại hải ngoại, và tại Nhật Bản. Đặc biệt, Nguyệt san Người Việt Tự Do (số đầu tiên ra mắt vào Tháng 11/1975) và Nguyệt san Hiệp Hội Người Việt Tại Nhật kế tiếp sau đó đã là món ăn tinh thần bổ ích hằng ngày không thể thiếu của bà con tại các trại tị nạn, các trung tâm xúc tiến định cư khắp nơi trên nước Nhật.

Bên cạnh đó là nhu cầu giúp người định cư học tiếng Nhật, và nhu cầu giúp con em học tiếng Việt, lịch sử, văn hóa Việt, v.v.

Đối với xã hội Nhật, cộng đồng người Việt tại Nhật cũng có nhu cầu phát hành các tài liệu nhằm giải thích lý do tại sao người Việt Nam phải rời bỏ quê hương ra đi tị nạn, và thế nào là nỗ lực của người Việt trong và ngoài nước nhằm tranh đấu cho tự do, dân chủ tại quê nhà, …

Trong bối cảnh đó, Nhà xuất bản Nam Nghệ Xã đã được thành lập như một điều tất nhiên, cần thiết để hỗ trợ cho các hoạt động trên lãnh vực thông tin, văn hóa, giáo dục v.v.  của cộng đồng người Việt tại Nhật.

2. Lịch sử thành lập Nhà xuất bản Nam Nghệ Xã

Nhà xuất bản Nam Nghệ Xã (NXB NNX) đã đăng ký và có tư cách pháp nhân của một công ty trách nhiệm hữu hạn (yuugen gaisha) ngày 8/08/1985. Tuy nhiên, NXB NNX có lịch sử hình thành khá lâu, từ khoảng năm 1972, bắt đầu bằng một máy đánh chữ tiếng Anh cồng kềnh nhưng khá tối tân vào thời đó, được một số sinh viên trong Cư xá Đông Du (Nguyễn Đức Hòe, Phạm Thanh Linh, Lê Công Phú, v.v.) xuất tiền túi, đầu tư mua về để kinh doanh kiếm sống, bằng cách đánh máy phụ cho các công ty ấn loát Nhật. Chiếc máy này gọi là một loại máy shashin shokujiki 写真植字機, một loại máy phototype setting equipment dùng hệ thống quang học phức tạp, chiếu một tia sáng qua một bản font chữ bằng thủy tinh, cho hiện hình chữ trên một tờ giấy phim, giống như cách chụp hình phổ biến trên phim nhựa vào thời đó. Tên gọi “Nam Nghệ Xã” cũng được dùng từ những ngày này. Tuy nhiên, công việc của “nhà xuất bản” vào thời điểm đó chỉ đơn thuần là đánh máy tiếng Anh phụ cho các công ty ấn loát Nhật để làm nguyên bản của những ấn phẩm bằng tiếng Anh. Một số sinh viên bắt đầu học đánh máy, làm nguyên bản của các ấn phẩm từ những năm này.

Sau năm 1975, để phát hành các tờ báo (như Bản tin Ủy Ban Tranh Đấu Cho Người Việt, Nguyệt san Người Việt Tự Do, v.v.), một số sinh viên trong phong trào đấu tranh trong giai đoạn đó đã xuất tiền túi, mua vài máy đánh chữ IBM chạy bằng điện (dùng động cơ điện đánh bộ font chữ hình cầu để in chữ trên cuộn giấy carbon, cho hiện hình chữ trên trang giấy trắng).

Tiếp theo đó, vào khoảng năm 1980, nhu cầu phát hành các tờ báo, tự điển, sách tiếng Việt, tiếng Anh… ngày càng gia tăng. Công việc đánh máy tiếng Anh làm nguyên bản các ấn phẩm cũng trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi NXB NNX phải đánh máy thật nhanh, thật đẹp, dùng nhiều loại font chữ phong phú hơn. Để đáp ứng nhu cầu này, NXB NNX đã mạnh dạn đầu tư mua một máy gọi là “Compugraphic” (phototypesetting equipment, như hình bên cạnh) khá mắc tiền vào thời điểm đó. Máy này giống như máy shashin shokujiki đã đề cập bên trên, cũng dùng hệ thống quang học, chiếu tia sáng qua các ống kính và lăng kính, nhưng dùng bảng font chữ plastic mềm được gắn vào một khung tròn lúc nào cũng xoay tròn bằng động cơ điện.

Trong suốt thời gian dùng những loại máy phototype này, trong văn phòng NXB NNX lúc nào cũng cần phải trang bị một phòng tối để rửa giấy phim, kết quả của công việc đánh máy. Chỉ cần sơ ý một chút, để ánh sáng bên ngoài lọt vào phòng tối, hoặc không gắn hộp đựng giấy phim đúng cách, v.v. là giấy phim bị hư, và xem như cả công trình đánh máy trở thành công toi.

Cũng vào khoảng năm 1980, bên cạnh công việc đánh máy làm nguyên bản các ấn phẩm, Nhà xuất bản NNX còn nhận công việc in ấn các tờ báo, ấn phẩm từ các trường đại học, các hội đoàn quen biết. Nhu cầu in ấn này ngày càng tăng, khiến NXB NNX mạnh dạn đầu tư mua một máy in khổ nhỏ. Nơi đặt cái máy in đầu tiên này là gian nhà kho của anh Trần Đức Giang. Sau đó, vào khoảng năm 1982, máy in này được dọn về đặt tại gian chòi xây tạm bên cạnh nhà anh Phạm Thanh Linh. Nhiều lúc máy in này phải chạy suốt đêm, nhưng may mắn là “nhà in” ở khá xa nhà hàng xóm, nên không bị than phiền vì tiếng ồn.

Đến năm 1985, khi NXB NNX được đăng ký tư cách pháp nhân thì văn phòng NXB được dời vào một tòa nhà tại khu vực Shiba, Quận Minato, Thành phố Tokyo. Tổng giá trị máy móc, tài sản của công ty lúc đăng ký được đánh giá vào khoảng 6 triệu Yen, gồm những máy đánh chữ, máy copy, máy in, và cả máy cắt giấy dùng để đóng gáy các ấn phẩm đơn giản. Tại thời điểm đó, NXB có 6 nhân viên chính thức, có thể làm mọi công đoạn cần thiết để lay-out, trình bày nguyên bản của các ấn phẩm, từ ấn phẩm đơn giản là thiệp cưới, thiệp báo tin, đến những ấn phẩm phức tạp như bộ Tự điển Nhật Việt Dụng Ngữ dầy 825 trang.

Có thể nói, cho đến khoảng năm 1980, khi Nhật Bản bắt đầu có những máy word processor, (một dạng máy computer đơn giản để đánh máy các thứ tiếng), thì NXB NNX là nơi duy nhất tại Nhật có thể xuất bản các ấn phẩm, tài liệu bằng đủ thứ tiếng, từ tiếng Nhật, tiếng Anh, đến tiếng Việt, tiếng Miên, tiếng Lào.

Một số ấn phẩm, tài liệu điển hình do NXB NNX phát hành có thể được liệt kê như sau:

  • Việt Sử Toàn Thư, Tập I và Tập II
  • Tù Binh và Hòa Bình
  • Tập hình ảnh Refugee
  • Từ Thực Dân đến Cộng Sản
  • Nhật Việt Dụng Ngữ (用例付語彙集、ベトナム語版)
  • Nhật Lào Dụng Ngữ (用例付語彙集、ラオス語版)
  • Nhật Miên Dụng Ngữ (用例付語彙集、カンボジア語版)
  • Tự điển Nhật-Việt-Anh
  • Danh Từ Y Tế
  • Ngữ Dụng Thường Nhật (Việt-Nhật)
  • Đời Sống và Luật Pháp tại Nhật
  • Tập Hướng Dẫn Cuộc Sống tại Nhật
  • Vần Xuân Thu
  • Vần Việt Ngữ
  • Tape video “Tiếng Việt – bộ Sơ Cấp, Trung Cấp”
  • Tape video: Đời Sống Tại Nhật
  • Phim Chúng Tôi Muốn Sống, phụ đề tiếng Nhật
Một vài ấn phẩm đương thời

Tuy nhiên, điều đáng tiếc là tại Nhật Bản, NXB NNX cũng cùng chung số phận như các công ty xuất bản, ấn loát quy mô nhỏ tại Nhật, mất dần công việc, và ngưng hoạt động từ năm 2003, khi ngành ấn loát truyền thống sử dụng các loại máy phototype đã dần trở nên lạc hậu. Từ khoảng năm 1985, các loại máy computer nhỏ đã bắt đầu được đưa vào sử dụng trong ngành ấn loát, xuất bản. Các công ty Nhật, các trường học, các đoàn thể, v.v. có thể dùng máy word processor, máy tính computer, cùng với các loại máy copy, máy laser printer, v.v. để tự làm lấy những tài liệu đơn giản. Và thế giới bước vào thời đại ebook, sách báo điện tử, v.v. Thay vì đọc sách trên giấy trắng mực đen, người ta có thể đọc trên màn ảnh của máy tablet, máy smartphone, máy computer, v.v.

3. Mục tiêu thành lập Nam Nghệ Tân Xã

Kỷ niệm ngày giới thiệu ấn bản đầu tiên của Nam Nghệ Tân Xã

Tuy NXB NNX phải ngưng hoạt động vì đã không theo kịp thời đại điện tử hóa của thế giới, nhưng không phải vì vậy mà không còn nhu cầu phổ biến tin tức, phát hành sách báo, thơ văn, , v.v. trong cộng đồng người Việt tại Nhật.

Trong thời đại truyền thông điện tử hiện tại, người ta có thể tiếp cận với nhiều loại sách báo điện tử, qua các trang mạng internet. Nhu cầu học tiếng Nhật của người lớn, và nhu cầu học tiếng Việt, học lịch sử văn hóa Việt của trẻ em có thể giải quyết bằng cách vào mạng internet, đọc sách báo, truy cập thông tin không tốn tiền, hoặc mua sách ebook, emagazine, v.v. một cách dễ dàng. Tương tự, nhu cầu phổ biến thông tin cũng có thể giải quyết dễ dàng bằng cách sử dụng các trang mạng xã hội điện tử như facebook, twitter, blog, v.v.

Tuy nhiên, “easy come, easy go”: cái gì dễ có được thì cũng dễ dàng mất đi. Nhiều kết quả khảo sát đã cho biết: không như khi đọc sách in trên giấy, người ta không dễ dàng nhớ lâu nội dung sách báo khi đọc trên màn ảnh máy.

Điều này cũng dễ hiểu, vì khi đọc sách báo in trên giấy, bộ não con người phải làm công việc tổng hợp tất cả những thông tin, cảm nhận không chỉ từ mắt (để ghi nhận chữ viết, hình ảnh), mà còn từ đầu ngón tay và từ tai (khi lật trang giấy), từ mũi (khi ngửi mùi giấy, mùi mực), rồi mới đưa vào phần ghi nhớ trong não bộ. Muốn nhớ lâu, muốn có thời giờ để suy ngẫm, con người cần đọc sách báo in trên giấy. Vì vậy, con người vẫn cần duy trì việc phát hành, phổ biến các ấn phẩm trên giấy.

Như vậy, Nhà xuất bản Nam Nghệ Tân Xã, một mặt phải kế thừa tinh thần, di sản của Nhà xuất bản Nam Nghệ Xã để tiếp tục việc phát hành sách báo, tài liệu văn học nghệ thuật trên giấy, nhưng mặt khác cũng phải chuyển hướng vận dụng những tiến bộ của ngành thông tin điện tử vào việc bảo tồn và phát triển văn hóa Việt trên đất Nhật.

Có thể nói, Nhà xuất bản Nam Nghệ Tân Xã được thành lập với ba mục đích chính như sau.

Thứ nhất: Thành lập và điều hành một thư viện điện tử, để sưu tầm, số hóa, lưu trữ tất cả sáng tác văn học nghệ thuật của cộng đồng người Việt tại Nhật dưới dạng file điện tử, nhằm mục đích bảo tồn các tài liệu liên quan đến lịch sử, văn hóa Việt Nam. Đối tượng sưu tầm, lưu trữ vào thư viện điện tử này bao gồm cả những tác phẩm trong lịch sử, bao gồm cả những tài liệu từ thời cụ Phan Bội Châu phát động Phong trào Đông Du, v.v. cho đến những câu chuyện về người tị nạn, làn sóng thuyền nhân, cuộc sống của người Việt đến Nhật tìm tự do sau năm 1975, v.v.

Thứ nhì: Khuyến khích, hỗ trợ thành viên cộng đồng người Việt tại Nhật trong việc nghiên cứu, sáng tác và phổ biến các tác phẩm thơ văn, nghệ thuật. Đặc biệt, Nhà xuất bản Nam Nghệ Tân Xã sẽ chú trọng đến việc tư vấn ý kiến, hỗ trợ các thành viên trong cộng đồng trong việc minh họa, thiết kế, trình bày các tác phẩm sáng tác văn học nghệ thuật của mình, trên trang mạng điện tử, hoặc dưới dạng ấn phẩm, tài liệu vật thể.

Thứ ba: Hiệp tác, hỗ trợ các cá nhân, hội đoàn người Việt và người Nhật trong việc nghiên cứu, sáng tác, phổ biến các tài liệu về văn hóa, lịch sử Việt Nam, cùng với những tài liệu có liên quan đến mối liên hệ giao lưu giữa hai dân tộc Nhật- Việt, hoặc có liên hệ đến việc hiệp tác phát triển kinh tế của hai quốc gia. Trong mục tiêu này, Nhà xuất Bản Nam Nghệ Tân Xã cũng hỗ trợ thành viên cộng đồng trong việc dịch sang tiếng Việt và phổ biến các tác phẩm tiếng Nhật để giới thiệu những nét đặc sắc của văn hóa, dân tộc Nhật đến với người Việt trong ngoài nước, cũng như để vận dụng những tiến bộ về khoa học, kỹ thuật của Nhật Bản phục vụ cho việc phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam.

Đặc tập 40 Năm Văn Học Việt Nam Tại Nhật là một công trình đúc kết, biên soạn của một nhóm chủ trương gồm 5 người đi đầu trong công tác bảo vệ và phát triển văn học nghệ thuật Việt Nam tại Nhật. Đó là các anh: Lê Hoàng Hải, Vũ Đăng Khuê, Nguyễn Huy, Nguyễn Văn Mong, và Trung Hiếu. Việc phát hành đặc tập này cũng là công trình đầu tiên của Nhà xuất bản Nam Nghệ Tân Xã, với sự hỗ trợ của Hiệp Hội Người Việt Tại Nhật.

Qua việc đúc kết, biên soạn lại những bài viết, bài thơ trang trải những suy tư của người Việt tha hương, hoặc tường thuật lại những hoạt động của người Việt trong cuộc sống tại Nhật, hoặc mô tả xã hội Nhật từ nhãn quang của con người Việt, v.v., – đặc tập này có thể được xem như là một dấu xuống hàng, hay một dấu sang trang trong sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam tại Nhật. Từ đây, bước sang một giai đoạn phát triển mới của cộng đồng, giới trẻ thế hệ thứ hai, thứ ba, .v.v. của cộng đồng người Việt tại Nhật có thể đọc đặc tập này để biết được thế nào là suy tư và cuộc sống của cha ông trong những ngày tháng mới đến Nhật, để từ đó có thể hăng hái hơn trên con đường tìm hiểu về quê hương cội nguồn, và có thêm tự hào và tự tin khi bước vào xã hội Nhật.

Những người bạn hỗ trợ trong việc trình bày sách của NNTX

Nhóm chủ trương Đặc tập 40 Năm Văn Học Việt Nam tại Nhật và Nhà xuất bản Nam Nghệ Tân Xã kỳ vọng là Đặc Tập này sẽ giúp phần nào trong việc thúc đẩy phát triển những tài năng văn học nghệ thuật mới trong giới trẻ thế hệ thứ hai, thứ ba, .v.v. của cộng đồng người Việt tại Nhật, và như vậy, sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam tại Nhật sẽ luôn sinh động, sống mãi cùng với dân tộc Việt.

Đông Kinh, Tháng Tư năm 2019

Nguyễn Mỹ Tuấn

SƠ LƯỢC VỀ ĐẶC TẬP “40 NĂM VĂN HỌC VIỆT NAM TẠI NHẬT”

Hoàn Cảnh, Mục Đích Ra Đời

Cộng đồng người Việt tại Nhật đã có từ khá lâu, không kể các vị tiền bối trong phong trào Đông Du đầu thế kỷ XX, còn có khoảng 700 du học sinh Việt Nam tiếp tục ở lại Nhật sau năm 1975, và có khoảng 10,000 người tị nạn cộng sản được chính phủ Nhật cho định cư tại Nhật sau năm 1975. Thêm vào đó, trong những năm gần đây, lượng du học sinh và lao động ngắn hạn dưới hình thức thực tập và tu nghiệp tăng đột biến. Tổng cộng đã có xấp xỉ 300,000 người Việt tại Nhật trong thời điểm hiện tại. Một cộng đồng đông đảo, có bề dày về cả thời gian cư ngụ và nhân số như thế, thì không gian văn hóa tinh thần chắc chắn không thể tầm thường. Tuy nhiên, do hoàn cảnh xã hội thay đổi, một sự đứt gãy truyền thông trầm trọng đã xảy ra giữa các thế hệ người Việt ở Nhật.

Giới trẻ mới đến không biết gì về các tiền bối; những người đi trước muốn trao truyền lại ngọn lửa cho đàn hậu bối cũng loay hoay… Trong hoàn cảnh đó, quyển đặc tập “40 NĂM VĂN HỌC VIỆT NAM TẠI NHẬT” đã được ra đời, khởi đầu từ một nhóm nhỏ chủ trương gồm ba thế hệ: du học trước 1975, tị nạn sau 1975 và thế hệ du học mới qua vài năm gần đây. Đây là nỗ lực để tái lập lại sự truyền thông giữa các thế hệ, một mặt, để tưởng nhớ những người đã ra đi, nhưng mặt khác cũng chính là để hun đúc động viên tinh thần cho những người ở lại không phân biệt tuổi tác xuất thân, tuy kiều cư hải ngoại nhưng trái tim luôn đau đáu hướng về tổ quốc. Ngõ hầu, tái khẳng định lại giá trị văn hóa tinh thần của người Việt tại Nhật nói chung, và đặc biệt là giá trị của dòng văn học đấu tranh vì sự tự do dân chủ cho quê hương, dù qua bao nhiêu năm vẫn không hề mai một.

Một buổi làm việc của Hiệp Hội Người Việt Tại Nhật mấy mươi năm trước. Người đang nghe điện thoại là cụ Vũ Văn Cầu, hội trưởng tiên khởi của Hiệp Hội.

Nội Dung Đặc Tập

Thiết kế bìa của đặc tập “40 Năm Văn Học Việt Nam Tại Nhật”

Đặc tập gồm tổng cộng 785 trang, được chia làm bảy chương. Chương khởi đầu là lược sử những bước thăng trầm của cộng đồng người Việt tại Nhật, từ nguồn tư liệu dồi dào và chi tiết đã được ghi chép cẩn thận chỉn chu từ ngày đầu. Chương II giới thiệu về quá trình từ nhà xuất bản Nam Nghệ Xã của những sinh viên du học trước 1975 cho đến sự ra đời của nhà xuất bản Nam Nghệ Tân Xã là sự kết hợp của mấy thế hệ. Ở chương III, độc giả sẽ có dịp đọc lại những bản văn đã từng xuất bản nhiều chục năm trước tại Nhật, được dịp nhìn thấy lại những cái tên thân thương: Lê Thiệp, Vy Anh – Hổ Cáp, Anh Thuần, Ngô Văn… và sẽ ít nhiều có cảm giác sống lại những ngày rực lửa của phong trào đấu tranh của người Việt tại Nhật qua các ấn phẩm báo chí tưởng như mới vừa in ấn hôm qua hay cảm giác nhẹ nhàng sâu lắng của những phóng sự đời thường mới đó mà đã mấy mươi năm.

Nhà văn Lê Thiệp (bìa trái) và thầy Thích Trí Hiền (ngồi giữa) trong một buổi tuyệt thực phản đối độc tài và đòi tự do dân chủ cho tổ quốc tại Nhật Bản. Chi tiết xin đón xem trong đặc tập.

Trong phần tưởng niệm, những lời tưởng nhớ đẫm tình có lẽ khiến chúng ta ít nhiều xúc động, còn đâu nữa hình bóng xưa, của những con người mà cuộc đời đẹp như huyền thoại: nào cụ Vũ Văn Cầu hội trưởng tiên khởi của Hiệp Hội Người Việt Tại Nhật, nào Ngô Chí Dũng đội trời đạp đất chẳng ngại vào rừng gươm biển lửa, nào Y Yên văn tài lai láng và nhiệt tâm với cộng đồng, nào Âu Minh Dũng cả đời cô độc sống cho trọn lý tưởng vì tổ quốc… Độc giả cũng sẽ có dịp điểm lại một vòng truyền thông và văn nghệ người Việt tại Nhật mấy mươi năm qua một bài biên khảo khá công phu.

Kế tiếp ở chương IV, độc giả sẽ có thể điểm sơ qua một vòng những tác phẩm người Việt viết về Nhật Bản. Hình ảnh về đát nước và con người Nhật Bản được diễn tả sinh động và đặc sắc qua các bài tùy bút tuyệt diệu: nét đẹp của quốc kỹ Sumo, cái thú hanami mỗi độ xuân về, tết Nhật đầy màu sắc, những cảm nhận và phân tích sâu sắc về văn học Nhật đương đại,  tinh thần samurai độc đáo của người Nhật sau thảm họa động đất sóng thần, câu chuyện về người lính Nhật còn lưu lạc ở rừng núi từ sau thế chiến II, về ẩm thực truyền thống Nhật – một di sản phi vật thể của nhân loại đã được UNESCO công nhận, những phân tích và lý giải về niên hiệu Lệnh Hòa… Chắc chắn độc giả sẽ có thêm nhiều dữ kiện độc đáo qua các góc nhìn khác và mới mẻ.

Ở chương V, đặc tập đã tập hợp được rất nhiều tác phẩm văn thơ của người Việt đương đại, đủ mọi lứa tuổi và nghề nghiệp, từ du học sinh đến giáo sư đại học, từ tu nghiệp sinh đến ủy viên nghiệp đoàn, từ người đi làm đến linh mục tu sĩ… tất cả cùng xuất hiện hài hòa và tươi mới. Trong chương này độc giả sẽ có dịp gặp gỡ nhiều cây bút vừa xuất hiện trên văn đàn, có dịp đọc nhiều thể loại văn thơ đáng đọc. Những câu chuyện đời lính của nhà văn Nguyễn Văn Mong sẽ đưa người đọc về thời binh lửa với những cảm xúc ngổn ngang của trai thời loạn. Người đọc cũng sẽ vui cười thú vị với những ký sự đường phố của anh chàng “playboy” Huy Nguyễn với những mánh lới pachinko theo điệu nhạc. Và còn rất nhiều điều thú vị đang chờ đón độc giả trong chương này.

Chương VI chứa bài vở của những tác giả người Việt khắp nơi trên thế giới, những văn hữu có ít nhiều nợ duyên với Nhật Bản. Nơi này có hồi ký về chuyến vượt biên kinh hoàng sóng gió, có kỷ niệm về những bản tình ca Nhật Bản thời sinh viên và tình yêu những năm son trẻ, có phóng sự về Tổng y viện Duy Tân và cuộc chiến, có bài bút ký Một Thoáng Phù Tang công phu và đặc sắc.

Chương VII là lời kết, tuy nhiên không phải để kết mà để mở lại một cánh cửa, cùng đắp tiếp một con đường, cánh cửa của lâu đài văn hóa Việt tại hải ngoại, con đường đi tới ngày đất nước không còn độc tài, trăm triệu đồng bào đều được thái hòa thịnh vượng.

Lay out concept của bìa sách “40 Năm Văn Học Việt Nam Tại Nhật”

Bản thiết kế bìa sách trên máy tính

Nay vâng lời các sếp lên thưa chuyện với quý khách về mấy chuyện bên lề của quá trình biên soạn sách. Mình có dịp thưa lại ý nghĩa nội dung thiết kế bìa sách. Nổi trên bìa trước là bản đồ Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa, đảo Phú Quốc và nếu tinh mắt thì thấy cả Côn Đảo. Chìm dưới phía sau bản đồ là hình mặt trống đồng Đông Sơn, tượng trưng nền minh triết ngàn năm tiền Bắc thuộc lần thứ nhất. Nền minh triết này đã từng bá chủ vùng trời Lĩnh Nam bao la, chế ra lịch pháp Can Chi, chữ viết tượng hình và kỹ thuật chế tác đồ đồng đi trước thời đại. Nhắc nhở cho các thế hệ sau dù kiều cư đất khách nhưng nguồn cội vẫn hết sức đáng tự hào.

Mặt sau là hình con thuyền và đoàn người đang chung tay chèo chống, trên cao là chim Lạc bay, chìm dưới lớp sau là bản đồ Nhật và biểu tượng mặt trời tròn quen thuộc. Hai bìa trước sau là hai design riêng biệt, nhưng khi lật ra thành một chỉnh thể, thì ta thấy chim Lạc và đoàn người đang hướng về phía tay phải, nơi có hình bản đồ tổ quốc.

Con số 40 được in màu trắng nổi bật với những texture nứt nẻ, như bia đá mỏi mòn rạn nứt vì dấu thời gian. 40 là huyền số theo văn hoá Semit, tượng trưng cho khái niệm nhiều. Nhiều năm, 800 trang sách, không nhiều không ít. Con thuyền và đoàn người hướng về cố quốc, đi qua độ dày gáy sách cũng giống như đi qua chiều dài lịch sử. Cùng chung tay chèo, gió Nam thổi căng buồm, lạc quan chèo chống tới ngày cập bến.

Ấn phẩm đầu tiên: “40 Năm Văn Học Việt Nam Tại Nhật”

Sách được in tại Taiwan, với hình thức giấy nhẹ và bìa cứng, size A5, độ dày 793 trang, với tổng cộng 79 bài viết và trên 50 tác giả từ Nhật Bản và khắp nơi trên thế giới.

Thể loại trong sách rất phong phú, từ các tư liệu báo chí và văn chương của mấy mươi năm trước cho đến dòng chảy văn học hiện đại của người Việt tại Nhật và các tác giả khách mời từ khắp nơi trên thế giới.

Giá sách khi phát hành là 30 USD đã bao gồm phí vận chuyển.

Mọi chi tiết xin liên hệ email: bbt@namnghetanxa.com